Khoa Tiểu học - Mầm non
canada goose rea canada goose barn barbour jacka duvetica jacka moncler jacka woolrich jacken canada goose damen parajumpers jacke canada goose outlet belstaff jacken moncler jacken canada goose schweiz barbour jacken parajumpers outlet peuterey jacken woolrich parka belstaff schweiz ugg boots schweiz barbour jacke ugg boots doudoune moncler moncler femme canada goose femme canada goose suisse parajumpers solde parajumpers femme ugg suisse

Khoa Tiểu học - Mầm non

 

Rươi là động vật không xương sống, thuộc nhóm Giun đốt Nhiều tơ (Polygochaeta). Hiện nay, rươi được biết đến với giá trị dinh dưỡng cao và đem lại giá trị kinh tế lớn cho người khai thác. Rươi phân bố ở Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia,... Tại Việt Nam, Rươi xuất hiện nhiều ở các tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định,… Chúng tôi giới thiệu về quá trình sinh sản và phát triển ở nhóm động vật Giun đốt Nhiều tơ (Polygochaeta) nhằm cung cấp thêm những đặc điểm sinh học và sinh sản, phát triển của rươi, phục vụ cho việc xây dựng các giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển nguồn lợi rươi tự nhiên.

I. Đặc điểm sinh sản và phát triển của Rươi

1. Môi trường sống và hình dạng ngoài của rươi                                   

- Rươi ở vùng Thái Bình Dương có tên khoa học là Eunice viridis.

- Rươi chủ yếu là các sinh vật biển, thỉnh thoảng có thể bơi ngược dòng vào sông hay thậm chí bò lên trên mặt đất (chẳng hạn Lycastopsis catarractarum) được tìm thấy ở nhiều tầng nước, tìm kiếm thức ăn trong các đám rong, cỏ biển, ẩn núp dưới đá hay giấu mình trong cát hay bùn. Các loài rươi chủ yếu là động vật ăn tạp nhưng nhiều loài lại là các động vật ăn thịt tích cực.

Rươi sinh sống ở một số vùng thuộc nam đảo Thái Bình Dương như Indonesia, quần đảo Fiji, Samoa. Ở Việt Nam, rươi thường có ở vùng giáp ranh ba tỉnh: Hải Dương, Hải Phòng và Thái Bình, ngăn cách bằng con sông Luộc, nhiều nhất ở các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thanh Hà, Tứ Kỳ, Ninh Quang, trên các nơi nước lợ.

          - Ở nước ta tại các cửa sông có nhiều loại rươi, ở miền bắc nước ta vào những ngày cuối tháng 9 đầu tháng 10 âm lịch, trời đang thường bỗng mát hẳn, nhiệt độ có khi xuống dưới 25oC, vòm trời u ám, có mưa lất phất là dấu hiệu cho biết thời điểm đàn rươi kéo nhau lên mặt nước.

- Về cấu tạo cơ thể, rươi có 3 phần chính là đầu rươi, thân rươi và thùy đuôi của rươi. Trong môi trường tự nhiên, rươi sống ở tầng đáy, lúc này sự vận động của các chi diễn ra mạnh mẽ, chúng giống như các vây bơi. Ngoài việc trườn bò nhỏ các chi, sự uốn lượn tạo sang của toàn cơ thể, còn có chuyển động nhờ sự hô hấp của rươi trong lúc đang di chuyển. Nhờ đó mà lớp nước xung quanh rươi luôn luôn xao động giúp rươi có thể thay đổi được nguồn nước luôn mới, tạo ra giàu oxy hơn và giúp chúng hô hấp được tốt hơn.

Con rươi trưởng thành dài 60 đến 70mm, bề ngang chừng 5 đến 6mm. Thân hình dẹp với hơn 50 đốt màu hồng, xanh nhạt, nâu nhạt hay màu trắng. Đầu rươi tương đối nhỏ, nhưng mắt lại to. Phần trước của rươi to hơn phần sau trong khi các đốt lại ngắn hơn.

Cơ thể rươi rất đối xứng, lưng và bụng phân biệt rõ ràng. Môi trường sống thích hợp cho rươi là nước phải thật nhạt.

Thức ăn của rươi chủ yếu là mùn bã hữu cơ, xác động vật và các sinh vật phù du trôi nổi trong nước và trong các lớp bùn cát. Rươi rất ít di chuyển từ nơi này sang nơi khác và thường di chuyển rất nhiều của các đợt thuỷ triều cũng như các môi trường vùng cửa sông ven biển nơi rươi hay sinh sống.

Rươi bao gồm các cá thể phân tính đực cái. Tuy nhiên, người ta rất khó phân biệt giới tính đực cái của chúng, chỉ có những nhà nghiên cứu chuyên sâu hoặc những người có hiểu sâu mới có thể phát hiện.

          Rươi (Tylorhynchus sinensis), loài giun đốt, lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta), sống ở vùng cửa sông nước lợ, ven biển vịnh Bắc Bộ. Thân gồm trên 50 đốt, mỗi đốt có một đôi chi bên mang một chùm tơ, là cơ quan vận động. Phần đầu được chuyên hoá với nhiều cơ quan cảm giác. Thân có màu hồng, nâu nhạt hoặc xanh lá cây.

2. Sinh sản và phát triển của rươi

- Trứng  phân  cắt xoắn ốc, hoàn toàn và xác định. Phôi vị phát triển theo kiểu lan phủ.

Trứng nở thành ấu trùng trochophora, bơi tự do trong nước nhờ vành lông bơi trước miệng và sau miệng.

 Ấu trùng trochophora sau đó chuyển thành metatrochophora, sống bò dưới đáy, số đốt mọc thêm dần cho đến khi đạt số đốt trưởng thành.

- Rươi (Tylorhynchus sinensis), có giới tính phân biệt rõ rệt và đã phát triển những tập tính bảo đảm cho sự thụ tinh có hiệu quả cao.

Đến mùa sinh sản vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 dương lịch, Rươi từ những hang hốc ở ven bùn nổi lên mặt nước, cùng tiết trứng và tinh trùng và quá trình thụ tinh diễn ra trong nước. Quá trình này phụ thuộc vào chu kì mùa vụ, liên quan đến nhiệt độ môi trường. Độ dài ngày, ánh sáng, độ cao của thuỷ triều, tốc độ dòng nước, số lượng thức ăn... là những yếu tố sinh thái bảo đảm tỉ lệ sinh sản cho loài Rươi. Rươi là nguồn thực phẩm có giá trị.

-Rươi  Nereis diversicolorphân tính và sinh sản vào đầu mùa xuân, khi các giao tử được hình thành bên trong hầu hết các đốt. Con cái chín sinh dục bị vỡ bung, tung trứng ra ngoài; còn con đực thì phóng tinh trùng vào nước. Sự thụ tinh diễn ra ở bên ngoài cơ thể, hợp tử  phát triển thành ấu trùng trochophore có tiêm mao.

Khi đến mùa sinh sản rươi chui ra khỏi hang, phần sau chứa các tế bào sinh dục tự tách khỏi phần trước cơ thể và trôi dạt lên mặt nước, phóng ra vô số trứng hoặc tinh trùng làm cho mặt nước bị đục trắng. Trứng với tinh trùng sẽ kết hợp với nhau thành một thế hệ mới. Trong khi đó phần trên của rươi vẫn tiếp tục sống và đào hang trú ẩn trong quá trình tái tạo lại cái đuôi.

Mất khoảng 1 năm, rươi mới hồi phục lại hình dạng cũ. Vào lúc đó phần sau của vô vàn con rươi tiếp tục đứt ra, trôi nổi trên mặt nước tử khoảng 10 giờ đêm đến 4 giờ sáng hôm sau để tiếp tục chu kỳ sinh sản hiện tượng này gọi là “hiện tượng Swarming”. Đó chính là thời điểm để bắt rươi vì chúng nổi lên nhiều vô kể nếu không vớt chúng sẽ lại chìm xuống sông.(Nguồn: http://ruoi.com.vn/dac-san-ruoi/con-ruoi-va-cong-dung-cua-con-ruoi/)

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865) ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang Chương (2008) đã nghiên cứu về thành phần thức ăn và hình thức sinh sản của rươi. Theo đó, thành phần thức ăn của rươi chủ yếu từ mùn bã hữu cơ và các loài tảo. Hình thức sinh sản của rươi là hình thức sinh sản hữu tính. Nghiên cứu cũng tiến hành thành công thí nghiệm sinh sản nhân tạo rươi và sản xuất được 5 vạn ấu trùng giai đoạn 3 tia cứng ở điều kiện môi trường nước có độ mặn 14‰, pH dao động 7,9-8,2, nhiệt độ nước 25-29,2°C và DO: 6,3-6,8mg/l.

Đề tài đã ương nuôi 5 vạn ấu trùng rươi trong các ô thí nghiệm tại 2 địa điểm Quý Kim và An Lão ở điều kiện môi trường nước 25,5-34,5°C, DO=4,3-6,7mg/l, pH=7,3-8,0, độ mặn dao động 5-11‰. Sau 6 ngày ấu trùng đạt 4 tia cứng, sau 8 ngày đạt 5 tia cứng và đạt 16 tia sau 35 ngày tuổi. Tỷ lệ sống của ấu  trùng trong 2 thí nghiệm sau 35 ngày tuổi rất thấp (45 cá thế chiếm 0,1%) và sau 38 ngày tuổi không phát hiện ấu trùng trong ô thí nghiệm ở cả 2 địa điểm trên. Đề tài đã nhận định một trong những nguyên nhân gây chết cho ấu trùng là do nhiệt độ nước cao và diện tích ô thí nghiệm ương nuôi chưa phù hợp.

Nghiên cứu thiết lập được 06 cơ sở dữ liệu về đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh học, sinh sản của rươi cùng với các thông tin về ngư cụ đánh bắt, năng suất và sản lượng khai thác ngoài tự nhiên và đầm nuôi nhằm phục vụ cho việc xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi rươi tự nhiên.

(Nguồn: http://thuvien.mard.gov.vn/san-pham/thong-bao-de-tai-moi/nghien-cuu-mot-so-dac-diem-sinh-hoc-sinh-san-cua-ruoi-tylorrhynchus-heterochaetus-quatrefages-1865-o-mien-bac-viet-nam-50/).

II. Vai trò của rươi

- Đối với môi trường tự nhiên, rươi và một số loài giun nhiều tơ khác sống ở vùng cửa sông, bờ biển có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cải thiện các chất mùn bã hữu cơ và xác động vật chết trong chuỗi chu trình chuyển hóa vật chất của hệ sinh thái thủy triều. Chúng giúp xử lý các chất thải hữu cơ tạo nên độ màu mỡ, tơi xốp và làm sạch các vùng đất ngập nước.

Chính nhờ khả năng tự lọc, làm sạch thuỷ vực nên rươi biển còn được một số các nhà khoa học biển coi trọng và quan tâm xem như là các sinh vật chỉ thị mức ô nhiễm môi trường bằng cách xác định mật độ quần thể, sản lượng và tần suất xuất hiện tại một vùng cửa sông nào đó ở Việt Nam.

- Mặc dù có thân hình rất nhỏ bé, chỉ 5 đến 7cm nhưng giá trị dinh dưỡng  trong nó thì lại rấtlớn. Theo các chuyên gia dinh dưỡng thì trong 100g rươi có 81,9g nước, 12,4 protid, 4,4g lipid, 1,3g tro, cung cấp cho cơ thể được 92 calo. Như vậy so với thịt bê, rươi có giá trị dinh dưỡng cao hơn (trong 100g thịt bê nạc có 78,2g nước, 20g protid, 0,5g lipid, 1,3g tro, cung cấp được 87 calo). Ngoài ra trong rươi còn có nhiều loại muối khoáng như canxi (66mg%), photpho (57mg%), sắt (1,8mg%). Rươi có khả năng đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng mà cơ thể đang cần, hơn nữa đây là món ăn lạ miệng không nhàm chán như thịt bò, thịt bê,…

Rươi có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, có giá trị dinh dưỡng cao và đem lại lợi ích kinh tế lớn cho người dân. Do đó việc nghiên cứu về đặc điểm sinh sản và phát triển của rươi cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn. Từ đó chúng ta có thể bảo vệ và phát triển nguồn lợi rươi.

 

1. Đặt vấn đề

Hiện nay tại các trường mầm non có nhiều cách thức, biện pháp, phương pháp để phát triển vốn từ cho trẻ, nhưng việc sử dụng sơ đồ tư duy thiết kế trò chơi học tập để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho các em còn ít, và chưa phát huy được lợi thế. Khi sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển ngôn ngữ cho trẻ sẽ đạt được kết quả tốt vì sơ đồ tư duy vừa giúp các em phát triển được trí tưởng tượng, vừa phát huy được tư duy logic và phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ em và kích thích các em nói, diễn đạt ngôn ngữ mạch lạc rất tốt. So với các trò chơi học tập truyền thống thì việc vận dụng sơ đồ tư duy để thiết kế trò chơi học tập phát huy được nhiều ưu thế hơn hẳn, không chỉ tác động tới thị giác cho trẻ mà còn tạo được hứng thú hấp dẫn nhờ màu sắc đa dạng, hình ảnh phong phú. Đồng thời, sơ đồ tư duy tăng cho các em khả năng khái quát về một sự vật, việc, con vật hoặc cây cối,…Từ đó tất cả các hình ảnh này hiện lên như một bức tranh, giúp các em có thể hình dung kể lại tất cả sự vật, việc, con vật, rau, củ, quả,… Đây chính là yếu tố kích thích để trẻ nhìn vào và có thể sử dụng ngôn ngữ diễn đạt, kể lại thành những câu chuyện hấp dẫn.

2. Nội dung

2.1. Khái niệm lời nói mạch lạc, sơ đồ tư duy, trò chơi học tập

- Lời nói mạch lạc là sự diễn đạt lời nói một cách rõ ràng, lưu loát, có trình tự, có lôgic, giàu biểu cảm một nội dung nhất định để đạt được sự thông hiểu của người nghe cũng như hiểu được lời người khác nói trong quá trình giao tiếp.

    Lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi được thể hiện thông qua các dấu hiệu đặc trưng sau:

     + Phát âm đúng, rõ ràng, biết ngừng nghỉ giọng đúng chỗ;

     + Sử dụng từ phong phú và đúng nghĩa trong từng hoàn cảnh phát ngôn (danh từ, động từ, tính từ, số từ, quan hệ từ...);

     + Nói câu đúng ngữ pháp tiếng Việt;

     + Sử dụng các loại câu phong phú trong lời nói (câu đơn, câp ghép, câu mở rộng...);

     + Lời nói có nội dung thông báo đầy đủ, có lôgic có tính liên kết, thể hiện được mối quan hệ, liên hệ giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng trẻ nhận thức được.

- Sơ đồ tư duy: “Là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…bằng cách kết hợp sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết” (Một số chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên trung học cơ sở - Tiến sĩ Trần Đình Châu)

            + Là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể nói đó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của não bộ.

             + Là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não.

- Trò chơi học tập thc chất một trò chơi định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ mu giáo. T chơi học tp thuộc nhóm trò chơi luật, thường do người ln nghĩ ra cho trẻ chơi dùng vào mục đích giáo dục dạy học, hướng ti việc phát triển hot động trí tu cho trẻ.

2.2. Gợi ý sơ đồ tư duy mẫu chủ đề động vật nuôi trong gia đình

2.3. Một số trò chơi học tập sử dụng sơ đồ tư duy (chủ đề động vật nuôi trong gia đình)

2.3.1. Trò chơi: Đoán ra chưa nào?

a. Mục tiêu

            - Kiến thức:

            Phát triển vốn từ về tên con vật, đặc đim và công dụng của con vật đó.

            Dùng từ chính xác để gọi tên con vật và diễn tả đúng các đặc điểm của con vật.

            - Kĩ năng:

            Phát triển khả năng suy luận, phán đoán khi đoán tên con vật  được miêu tả.

            Phát triển khả ng liên hệ, và diễn đạt bằng ngôn ngữ trí nhớ chủ định khi tìm con vật có dấu hiệu giống với con vật va được miêu tả.

            - Thái độ:

            Trẻ hứng thú tích cực tham gia hoạt động.

b. Chuẩn bị

            - Chuẩn bị của cô

            Một số vòng tròn, sơ đồ tư duy con vật.

            - Chuẩn bị của trẻ

            Quần áo đầu tóc gọn gàng

            Tâm thế thoải mái

c. Cách tiến hành

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

giới thiệu trò chơi cho trẻ: “Hôm nay, các con sẽ cùng chơi một trò chơi mới, trò chơi này có tên Đoán ra chưa nào”.

            Cô nêu luật chơi:

            Nói đúng tên con vật được miêu tả .Mỗi đáp án đúng sẽ nhận được một cây cờ đỏ.

            Cô nêu cách chơi:

            Cô yêu cầu trẻ ghép 3 bạn cùng một nhóm. Các nhóm sẽ đng thành nh tròn. sẽ đặt một chiếc vòng vào gia đội hình, xung quanh vòng tròn sẽ các lá cờ đỏ.

            Cô giải thích cách chơi cho trẻ: Cô đưa mỗi nhóm 1 sơ đồ tư duy con vật. Các thành viên trong một nhóm sẽ tự thảo luận với nhau sơ đồ ( dụ: con trâu, con gà, …). Sau đó, lần lượt tng nhóm sẽ đng tại chỗ nói lên câu miêu tả của mình, và các nhóm phải lưu ý rng khi nói xong câu miêu t của mình, các nhóm phải nói từ “Hết” để kết thúc câu (Ví dụ: Con vật nuôi trong gia đình thường ăn cỏ, dùng để cày ruộng hoặc làm sức kéo, trên đầu có 2 cái sừng cứng? Hết). Tiếp đến, khi nghe xong từ “Hết” của nhóm miêu tả, các nhóm còn lại nhóm nào biết thì ng nhau nm tay chy vào vòng tròn đng và cả 3 bạn sẽ đng thanh trả lời đó con vật gì (Ví dụ: Đó con trâu), nhóm trả lời đúng sẽ được ly mt cây c đỏ đặt dưới chân. Trả lời sai s không được nhận cờ. Tuy nhiên, vn còn một cơ hội, nếu nhóm đó nói được con vật nào cũng một dấu hiệu đặc trưng ging với đáp án thì sẽ được ly một c đỏ (Ví dụ: con bò cũng ăn cỏ, cũng có thể dùng làm sức kéo).

Tổ chức chơi: 2 lần (7 -10 phút)

Nhận xét

            Cô mời trẻ nhận xét, sau đó nhận xét chung.

Trẻ lắng nghe

Trẻ lắng nghe

Trẻ  lắng nghe và làm theo hướng dẫn của cô

Trẻ tham gia chơi

Trẻ nhận xét nhóm bạn

2.3.2. Trò chơi: Đoán tên, tìm họ hàng.

a. Mục tiêu

          - Kiến thức:

          Phát triển vốn từ về tên đặc đim các loại con vật: gia súc, gia cầm, thú.

          - Kĩ năng

Phát triển khả năng quan sát tri giác cho trẻ.

          - Thái độ

          Trẻ hứng thú, tích cực tham gia hoạt động .

b. Chuẩn bị

          - Chuẩn bị của cô

Sơ đồ tư duy các loại con vật: gia cầm, gia súc, thú.

Bàn cờ quay. Bảng.

          Bông hoa nhiều màu

          - Chuẩn bị của trẻ:

            Quần áo đầu tóc gọn gàng

            Tâm thế thoải mái

c. Cách tiến hành

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

- Tên trò chơi: Cô trò chuyện giới thiệu trò chơi với trẻ: “Sáng nay các con ăn sáng có ngon không? Các con ăn món gì? Món ăn đó được nấu từ nhng loại thc phẩm nào? Hôm nay, sẽ giới thiệu với con về một trò chơi, trong trò chơi đó cũng sẽ nhắc đến loại thc phm như các con va kể. Trò chơi có tên là: Đoán tên, tìm họ hàng.

          - Luật chơi

Trẻ tìm đúng nhng sơ đồ tư duy cùng nhóm với con vật bạn mình quay được.

          Trẻ đọc được tên con vật. Miêu tả lại dựa vào sơ đồ tư duy đó. Mỗi sơ đồ tìm đúng đọc tên đúng và miêu tả đúng, hay sẽ được một bông hoa. Nhóm nào nhiều bông hoa nhất sẽ thắng.

          - Cách chơi

trình bày ch chơi cho trẻ. chia trẻ thành 2 nhóm. Mỗi nhóm sẽ một số sơ đồ tư duy. Mỗi nm sẽ chọn mt bạn lên quay bàn c quay để chọn nh (trên bàn cờ quay sẽ 3 hình, đại diện cho 3 loại: gia cầm, gia súc, thú. Trẻ quay được hình nào sẽ gỡ nh đó ra gắn lên bảng. Các bn còn lại trong nhóm sẽ tìm sơ đồ trong nhóm mình ng loại với hình bạn mình quay được . Sau khi tìm được tng bạn sẽ đọc lên tên con vật mình tìm được và nói thuộc loại nào, nói một số đặc điểm của loại đó.

Tổ chức chơi: 2 lần ( 5 – 8 phút)

Nhận xét

          Giáo viên nhận xét, khen thưởng

Trẻ lắng nghe

Trẻ lắng nghe

Trẻ  lắng nghe và làm theo hướng dẫn của cô

Trẻ tham gia chơi

Trẻ nhận xét nhóm bạn

2.3.3. Trò chơi: Tôi muốn, tôi muốn.

a. Mục tiêu

          - Kiến thức:

          Phát triển vốn từ về đc đim của các con vt và phân loại động vật.

          Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.

          - Kĩ năng:

          Phát triển khả năng tập trung chú ý của trẻ.

          Phát triển kĩ năng diễn đạt, miêu tả cho trẻ.

          - Thái độ:

          Trẻ hứng thú, tích cực tham gia hoạt động .

b. Chuẩn bị

          - Chuẩn bị của cô:

          Một cái i.

            Sơ đồ tư duy các loại con vật: gia cầm, gia súc, thú).

          - Chuẩn bị của trẻ:

            Quần áo đầu tóc gọn gàng.

            Tâm thế thoải mái.

c. Cách tiến hành

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

- Tên trò chơi: Cô trẻ ngồi thành vòng tròn, trò chuyn về các con vật trong gia đình, cô yêu cầu trẻ kể tên một số con vật nuôi trong gia đình. gii thiệu t chơi cho trẻ: “Cô một trò chơi nói về các con vật rất thú vị, hôm nay và các con sẽ cùng nhau chơi thử nha”. Trò chơi có tên : Tôi muốn, tôi muốn.

          - Luật chơi:

          Trẻ đoán được mình thuộc nhóm con vật nào đoán được tên con vật của bạn thông qua lời diễn tả về một vài đặc đim của con vật đó.

          - Cách chơi:

Đầu tiên, yêu cầu tr chuyền một chiếc túi đã chuẩn b sn, trong đó có các sơ đồ về các con vật, chiếc túi đến tay bạn nào, bạn đó sẽ ly từ trong túi một sơ đồ giữ cho riêng mình, không cho bn khác thy. Sau khi tất cả các trẻ trong vòng tròn đều sơ đồ cho riêng mình t yêu cầu trẻ xem k con vt có trong sơ đồ ca mình. Tiếp theo, hướng dẫn cho trẻ chơi. Cô mở bài nhạc với trẻ sẽ đi xung quanh lớp. Khi nói: Tôi muốn, tôi muốn… thì trẻ sẽ đáp lại: Muốn gì, muốn gì… sẽ nói tiếp mt yêu cầu và trẻ sẽ làm theo (Ví dụ: nói “Tôi muốn các bạn sơ đồ về loài gia súc” thì lập tc các bạn sơ đồ thuộc loài gia súc sẽ ngồi xuống như: con lợn, con trâu,). Sau khi thc hiện xong yêu cầu của cô, các bạn đó sẽ diễn tả cho các bạn còn lại biết mình con vật gì (Ví dụ: Tôi là con vật sống trong gia đình, tôi thíc ăn cỏ, thường làm sức kéo hay đi cày), các bn còn li sẽ đoán tên con vật kim tra thẻ hình mà bạn đang cầm để biết được bạn đó phải thuộc nhóm theo yêu cầu của không. Sau khi các bạn diễn tả xong hết, sẽ cho trẻ tiếp tục chơi đặt yêu cầu với con vật  còn lại. Cứ như vy, cô có thể hoán đổi các thẻ hình gia các bạn với nhau chơi.

Tổ chức chơi: 2 -3 lần (7 – 9 phút)

Nhận xét:

          Giáo viên nhận xét, khen thưởng

Trẻ lắng nghe

Trẻ lắng nghe

Trẻ  lắng nghe và làm theo hướng dẫn của cô

Trẻ tham gia chơi

Trẻ nhận xét nhóm bạn

2.3.4. Trò chơi: Vì sao bạn biết?

a. Mục tiêu

          - Kiến thức:

          Phát triển vốn từ của tr về các con vật nuôi trong gia đình.

          Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.

          - Kĩ năng:

          Phát triển khả năng quan sát phân tích của trẻ.

          Phát triển duy logic của trẻ thông qua việc trẻ tự suy luận để nói lên lý do vì sao trẻ chọn hình nh đó.

          - Thái độ:

          Trẻ hứng thú, tích cực tham gia hoạt động .

b. Chuẩn bị

          - Chuẩn bị của cô:

          Power point trò chơi. (hoặc các tranh sơ đồ tư duy động vật nuôi gia đình và rau, củ, quả.)

          - Chuẩn bị của trẻ:

            Quần áo đầu tóc gọn gàng.

            Tâm thế thoải mái.

c. Cách tiến hành

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

- Tên trò chơi: Cô cho trẻ ngồi thành vòng tròn và gii thiệu t chơi với trẻ:Vì sao bạn biết?

- Luật chơi: Trẻ nhìn vào dãy hình chọn một hình không thuộc nhóm các nh còn lại, sau đó sẽ trả lời lý do vì sao trẻ chọn. Nếu chn và trả lời đúng sẽ có thưởng, còn chọn đúng mà không trả lời được thì không thưng.

          - Cách chơi:

gii thiu cách chơi với trẻ. Đầu tiên, trẻ sẽ nhìn vào dãy hình và đọc tên các hình ảnh có trong dãy. Sau đó, trẻ sẽ tìm mt hình không thuộc nhóm với các hình còn lại nói do sao trẻ chọn. Trẻ sẽ tự tay nhn vào hình chọn, nếu đúng hình ảnh sẽ được khoanh tròn màu đỏ kèm theo tiếng vỗ tay, nếu sai thì hình ảnh không thay đổi. Đ xem tiếp câu trả lời vì sao, cô giúp trẻ bằng cách nhấn vào hình ảnh đúng.

Với đáp án đúng về chọn hình ảnh giải thích sao, trẻ sẽ được thưởng quà.

Tổ chức chơi: 2 lần ( 5 – 7 phút)

Nhận xét

Cô nhận xét, động viên, khuyến khích trẻ.

Trẻ lắng nghe

Trẻ lắng nghe

Trẻ  lắng nghe và làm theo hướng dẫn của cô

Trẻ tham gia chơi

Trẻ nhận xét nhóm bạn

2.3.5. Trò chơi: Bác đưa thư

a. Mục tiêu

          - Kiến thức:

          Phát triển vốn từ của tr về các con vật nuôi trong gia đình.

          Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.

          - Kĩ năng:

          Phát triển khả năng quan sát của trẻ.

          Phát triển kĩ năng diễn đạt, miêu tả cho trẻ.

          - Thái độ

          Trẻ hứng thú, tích cực tham gia hoạt động .

b. Chuẩn bị

          - Chuẩn bị của cô:

          Sơ đồ tư duy loại nhỏ, và mỗi trẻ 1 phong bì, bên trong có 1 sơ đồ tư duy về vật nuôi trong gia đình.

          Vẽ những vòng tròn trên sàn lớp, quy ước đó là những ngôi nhà (số lượng vòng tròn bằng số trẻ trong lớp trừ đi 1 trẻ đóng vai bác đưa thư).

          - Chuẩn bị của trẻ:

            Quần áo đầu tóc gọn gàng.

            Tâm thế thoải mái.

c. Cách tiến hành

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

- Tên trò chơi: Cô giới thiệu trò chơi cho trẻ: “Hôm nay, các con sẽ cùng chơi một trò chơi mới, trò chơi này có tên Bác đưa thư”.

          - Luật chơi: Bạn nào gọi tên đúng con vật, và miêu tả đúng một số đặc điểm của con vật hoặc rau, củ, quả trong sơ đồ sẽ được nhận một ngôi sao. Ngược lại, bạn nào gọi và miêu tả chưa đúng sẽ lại là “ Bác đưa thư”

          - Cách chơi: Cô chọn một trẻ đóng vai bác đưa thư.

          - Mỗi trẻ đứng vào một vòng tròn. Trẻ đóng vai bác đưa thư cầm tập phong bì, vừa làm động tác đi xe đạp (giơ hai tay ra phía trước như đang cầm tay lái) vừa nói: “kính coong, kính coong”. Bác đưa thư đến từng “nhà” và đưa cho mỗi “ nhà” một phong bì. Các trẻ mở phong bì ra và gọi tên con vật trong tranh sơ đồ và miêu tả một số đặc điểm của con vật đó dựa vào sơ đồ đã có sẵn.

Trẻ nào nói không đúng tên con vật và miêu tả không đúng sẽ thay bạn đóng vau “ bác đưa thư” và trò chơi lại tiếp tục.

          - Sau mỗi lượt chơi, cô tráo sơ đồ hoặc xếp sơ đồ mới vào phong bì để trẻ học thêm từ mới.

Tổ chức chơi: có thể chơi 2 lần (5 – 7 phút)

Nhận xét:

          Cô nhận xét, tuyên dương những trẻ nói và diễn đạt đúng.

Trẻ lắng nghe

Trẻ lắng nghe

Trẻ  lắng nghe và làm theo hướng dẫn của cô

Trẻ tham gia chơi

Trẻ nhận xét nhóm bạn

3. Kết luận

Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ vai trò rt quan trọng trong công tác chăm sóc giáo dục nhm mc đích phát triển toàn diện cho trẻ, còn s giao tiếp và lĩnh hội tri thc ca trẻ trong các hoạt đng trường mm non cũng như các cấp học sau này. Ngôn ngữ mạch lạc là nền móng để trẻ thể hòa nhập với mi người xung quanh. vy, việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ rất quan trọng cần được quan tâm nhiều hơn na.

Trò chơi học tập mt dạng t chơi luật, giúp tăng hng thú cho trẻ khi chơi. Và trò chơi học tập ứng dụng sơ đồ tư duy có trò quan trọng trong việc phát triển nhận thc và ngôn ngữ của trẻ. Do đó, việc thiết kế các trò chơi học tập giúp trẻ phát triển vốn t phù hợp với đặc đim tâm sinh trẻ sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện, khả năng nói và hiểu từ của trẻ sẽ tăng cao và hiệu quả hơn.

 

Năm học 2017 - 2018 là năm học nhà trường chỉ đạo tập trung nâng cao chất lượng dạy học, gắn đổi mới phương pháp dạy học với ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả. Thực hiện đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả trong dạy và học để làm chuyển đổi căn bản phương pháp đào tạo từ chú trọng truyền thụ cung cấp kiến thức cơ bản sang phương pháp hình thành, phát triển năng lực, kĩ năng và phẩm chất người học. Từ đó góp phần rèn luyện kĩ năng thực hành, kĩ năng nghề, phát triển phẩm chất năng lực cho người học đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Hòa chung cùng  phong trào đổi mới sáng tạo trong dạy học của nhà trường, tôi đã thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ đã được phân công, hoàn thành tốt mục tiêu đổi mới, sáng tạo trong việc dạy và học năm học 2017 - 2018.

Năm học 2017 -2018 tôi đã đăng kí những nội dung đổi mới sáng tạo trong dạy học trên các lĩnh vực như giảng dạy; làm đề tài đổi mới sáng tạo trong dạy học; nghiên cứu khoa học; hướng dẫn sinh viên làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cuối khóa; thực hiện các nhiệm vụ đổi mới sáng tạo do tổ chuyên môn phân công.

Tôi đã thu được những kết quả nhất định trong từng lĩnh vực. Trong công tác giảng dạy, bản thân tôi luôn vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong từng môn học, bài dạy, tiết giảng; chuyển từ chú trọng truyền thụ, cung cấp kiến thức cơ bản sang phương pháp hình thành, phát triển năng lực, kĩ năng và phẩm chất người học. Tôi luôn chú trọng rèn cho sinh viên kĩ năng thuyết trình; hướng dẫn sinh viên tự học, chuẩn bị các nhiệm vụ học tập ở nhà trước khi đến lớp. Tôi yêu cầu các nhóm chuẩn bị bài có phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên. Tôi giao nhiệm vụ cho từng nhóm về soạn bài, thực hành tập giảng theo nhóm, quay lại vi deo gửi giảng viên nhận xét, đánh giá. Cách thức thực hiện này đã phát huy được tính tích cực, chủ động của người học. Ngoài ra trong các bài dạy, tôi luôn thiết kế bài học dưới dạng sơ đồ hóa, sinh viên dễ dàng tiếp thu kiến thức và bài giảng có tính hệ thống. Tôi đã sử dụng các phần mềm, sử dụng các vi deo clip, hình ảnh, bảng thông minh hiệu quả làm cho bài giảng sinh động, sinh viên hào hứng với nội dung học.

Năm học 2017- 2018, tôi đăng kí làm đề tài “Hướng dẫn sinh năm thứ hai ngành Giáo dục Tiểu học trường CĐSP Bắc Ninh tiếp cận dạy học Tiếng Việt 1 CGD”. Đề tài có giá trị thực tiễn và có thể được xem là cuốn tài liệu học tập cần thiết cho cả giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục tiểu học về dạy học Tiếng Việt 1 CGD. Tôi đã hoàn thành công tác nghiên cứu khoa học như viết bài đăng tạp chí, viết  bài viết đăng trên trang Wed của trường; hướng dẫn ba đề tài khóa luận cho sinh viên cuối khóa K35. Tôi đã cùng với tổ chuyên môn huấn luyện sinh viên thi NVSP cấp khoa, huấn luyện sinh viên tham gia thi giảng NVSP cấp trường; cùng tổ chuyên môn thiết kế bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hai học phần Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học 1 và Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học 2.

Để đạt được kết quả trên, trước hết là nhờ sự chỉ đạo của các cấp quản lí đã tổ chức hoạt động đổi mới phương pháp dạy học gắn với ứng dụng công nghệ thông tin đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả. Bên cạnh đó bản thân tôi đã nhận thức đúng và thực hiện nghiêm túc phong trào ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp trong dạy học. Tôi đã có sự chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, phương tiện cho giờ học đáp ứng yêu cầu, mục đích đề ra. Bản thân tôi luôn lựa chọn những phương pháp giảng dạy phù hợp với mục tiêu, nội dung, đối tượng dạy; tổ chức hình thức dạy học trên lớp đa dạng, phong phú, phát huy được tính tự giác, tích cực và hứng thú thực hiện các bài tập. Tôi đã sử dụng các phần mềm, sử dụng các vi deo clip, hình ảnh bảng tương tác hiệu quả và biết tích hợp CNTT vào đặc thù từng môn học làm cho bài giảng sinh động, sinh viên hào hứng học tập.

Thông qua việc thực hiện phong trào đổi mới sáng tạo trong dạy học, tôi thấy giảng viên đa phần rất hào hứng tham gia phong trào, đặc biệt là sử dụng bảng thông minh. Sinh viên tích cực tham gia các hoạt động do giảng viên tổ chức. Sinh viên tự tin, linh hoạt trong quá trình học tập. Sinh viên hào hứng làm việc nhóm có hiệu quả, không khí học tập vui vẻ, lành mạnh.

Để phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học” thời gian tới có hiệu quả hơn nữa, bản thân tôi đưa ra một số các phương hướng thực hiện đó là: Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”. Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, kĩ năng sống cho học sinh, sinh viên, xây dựng văn hóa học đường, môi trường giáo dục lành mạnh trong trường học. Thường xuyên, tích cực trong học tập, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong  giảng dạy đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Trong  năm học 2017 - 2018, bằng rất nhiều sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của đồng nghiệp trong tổ, khoa đặc biệt sự chỉ đạo của đồng chí trưởng khoa và đồng chí tổ trưởng chuyên môn cùng với sự nhiệt tình của học sinh sinh viên khi tham gia học tập, bản thân tôi đã đạt được những kết quả nhất định khi thực hiện các nhiệm vụ đổi mới, sáng tạo trong dạy học. Trong những năm học tiếp theo, tôi sẽ tiếp tục không ngừng cố gắng để việc đổi mới, sáng tạo trong dạy học của cá nhân trở thành một nhu cầu tự nhiên chứ không còn là nhiệm vụ mà cấp trên giao phó cho mình.

 

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học - công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn  nhân lực và thị trường lao động”.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, trước đòi hỏi của thực tiễn, từ khóa cao đẳng K32(2012 – 2015) trường CĐSP Bắc Ninh đã chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Qua hai khóa sinh viên đã ra trường đã khẳng định những ưu việt của học chế tín chỉ: “Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú thêm bằng cách chọn, nhập và xử lý thông tin. Dạy là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh được những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi tình cảm, thái độ”( Theo GS, TS Lâm Quang Thiệp trong báo cáo khoa học "Về phương pháp dạy, học và đánh giá thành quả học tập trong học chế tín chỉ”)

Hàng năm, trường CĐSP Bắc Ninh đều đặt nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy và học lên hàng đầu trong công tác chuyên môn. Với mục tiêu giúp cho HSSV có kiến thức, kĩ năng  tổ chức các hoạt giáo dục thể chất, có thể tự tin tổ chức hoạt động học thể dục cho trẻ mầm non  khi đi thực tập sư phạm cũng như sau này ra trường đi dạy ở các trường mầm non tôi đã mạnh dạn áp dụng tổ chức các hoạt động dạy và học học phần theo hình thức tích cực cho sinh viên thực hành giảng dạy theo nhóm, cá nhân trên lớp cũng như trong các hoạt động tự học, đồng thời tăng cường đưa sinh viên xuống dự giờ và thực hành dạy tại cơ sở mầm non thực hành của trường, xem các video clip những giờ dạy mẫu để học hỏi và rút kinh nghiệm, quay video clip thực hành tập giảng của sinh viên để lấy tư liệu nhằm nắm bắt cụ thể ưu – hạn chế của các em đồng thời giúp các em tự nhìn nhận năng lực của bản thân để có những phương hướng nâng cao cho phù hợp…

1. Một số khái niệm cơ bản

1.1. Khái niệm kĩ năng Sư phạm và kĩ năng thực hành giảng dạy

- Kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra.

-  Kỹ năng là khả năng vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những tri thức, kinh  nghiệm, phương pháp vào việc tổ chức hoạt động có hiệu quả trong điều kiện xã hội nhất định.

 Vậy, kỹ năng sư phạm là khả năng vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những tri  thức, kinh nghiệm, phương pháp đã lĩnh hội được ở trường sư phạm vào việc tổ chức hoạt động sư phạm có hiệu quả trong điều kiện cụ thể. 

    Kĩ năng thực hành giảng dạy là năng lực thực hiện một bài giảng nào đó theo như kế hoạch đã xây dựng để giúp người học chiếm lĩnh tri thức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.

1.2. Hoạt động học thể dục

     Là hình thức cơ bản trong các hình thức giáo dục thể chất cho trẻ mầm non. Trên hoạt động học, giáo viên cung cấp và rèn luyện cho trẻ những kĩ năng, kĩ xảo vận động có mục đích, tổ chức, hệ thống và có kế hoạch. Quá trình dạy học và giáo dục trên hoạt động học tạo cho trẻ sức mạnh thể chất và tinh thần, chuẩn bị sau này có đủ điều kiện tham gia vào các hoạt động ở trường Tiểu học.

2. Kĩ năng thực hành giảng dạy của sinh viên ngành Giáo dục mầm non trường CĐSP Bắc Ninh

2.1. Ý nghĩa của hoạt động thực hành giảng dạy đối với sinh viên ngành Giáo dục mầm non

     Từ nhiều năm nay, trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh luôn luôn quan tâm đến việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường rèn tay nghề  cũng như kĩ năng Sư phạm cho HSSV. Có thể nói Khoa Sư phạm Tiểu học Mầm non là một trong những Khoa điển hình của trường CĐSP Bắc Ninh về chất lượng đào tạo, về rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên và HSSV để đáp ứng nhu cầu biến đổi đi lên không ngừng của xã hội.

     Thực hành tập giảng là một hoạt động quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên. Đây là quá trình cọ xát với thực tiễn để các sinh viên sư phạm vận dụng những kiến thức đã được học vào giảng dạy ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường trước khi đi thực tập tại các trường phổ thông và trở thành một giáo viên chính thức. Hoạt động này không chỉ có ý nghĩa với người học mà còn có ý nghĩa sâu sắc với người dạy.

     Với người học, hoạt động thực hành giảng dạy đem lại một bức tranh sơ lược về ngành nghề mà mình đã lựa chọn. Từ đây các em nhìn nhận được năng lực của bản thân qua đó rút ra những kinh nghiệm bổ ích.

     Với người dạy, hoạt động này nhằm giúp giáo viên nhìn nhận, đánh giá được khả năng của sinh viên, biết được điểm mạnh, điểm yếu của các em để có biện pháp tác động kịp thời, phù hợp.

2.2. Nhóm kĩ năng thực hành giảng dạy của sinh viên ngành Giáo dục mầm non

2.2.1. Nhóm kĩ năng sư phạm nền tảng

 Bao  gồm  các KNSP được  hình thành  nhằm  chuẩn bị cho sinh  viên  lĩnh hội  các KNSP  chuyên  biệt.  Nhóm  các KNSP  nền  tảng  bao  gồm  những KNSP sau:

- Kĩ năng định hướng

- Kĩ năng giao tiếp

- Kĩ năng nhận thức

2.2.2. Nhóm kĩ năng sư phạm chuyên sâu

- Kĩ năng lập kế hoạch hoạt động học thể dục:

         + Kỹ năng đánh giá đặc điểm nhận thức, đặc điểm vận động, đặc điểm tâm lí của trẻ

         + Kỹ  năng  lựa chọn vận động cơ bản phù hợp với trẻ, với điều kiện thực tế

         +  Kĩ năng xác định mục tiêu

        + Kỹ  năng  lựa chọn và chuẩn  bị đồ dùng, phương tiện dạy học

        + Kỹ  năng  lựa  chọn  phương  pháp, biện  pháp  tác  động  phù  hợp  với  nội dung, lứa tuổi của trẻ.

- Kĩ năng tổ chức hoạt động học thể dục

       + Kỹ năng kích thích và duy trì hứng thú cho trẻ

       + Kỹ  năng hướng dẫn vận động

       + Kỹ năng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực

       + Kỹ năng sắp xếp, bố trí, sử dụng các phương tiện hoạt động

       + Kỹ năng bao quát lớp và xử lý các tình huống sư phạm

       + Kỹ năng chuyển  tiếp các hoạt động

       + Kĩ năng cân đối, phân bổ thời gian hợp lí

- Kĩ năng đánh giá hoạt động học thể dục

      + Kỹ năng quan sát hoạt động

      + Kỹ năng ghi chép kết quả quan sát

      + Kỹ năng trình bày và phân tích kết quả quan sát

      + Kỹ  năng xác định kết quả hoạt động (định tính và định lượng)

3. Tổ chức các biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng thực hành giảng dạy hoạt động học thể dục của sinh viên ngành GDMN trường CĐSP Bắc Ninh

3.1. Về phía giáo viên

Thông qua việc tìm hiểu cơ sở lí luận và điều tra thực trạng nhận thức cũng như thực hành hoạt động học thể dục của sinh viên ngành giáo dục mầm non (khóa K35), giáo viên đề xuất và tiến hành thực nghiệm một số biện pháp nâng cao kĩ năng thực hành giảng dạy hoạt động học thể dục cho sinh viên ngành GDMN trường CĐSP Bắc Ninh cụ thể như sau:

- Biện pháp 1: Tổ chức cho sinh viên dự giờ và phân tích các giờ dạy mẫu của giáo mầm non và sinh viên khóa trước.

- Biện pháp 2: Tổ chức tập giảng theo nhóm – yêu cầu các nhóm quay lại video clip

- Biện pháp 3: Lắng nghe, chia sẻ những khó khăn, hạn chế của sinh viên khi thực hành tập giảng tại những buổi tự học

- Biện pháp 4: Khắc phục lỗi ngay khi sinh viên trả bài trên lớp và yêu cầu sinh viên gửi lại video clip giảng lại sau khi được sửa

- Biện pháp 5: Rèn luyện kĩ năng tự nhận xét – đánh giá giờ thực hành của nhóm mình cũng như nhóm bạn để  tự rút ra kinh nghiệm cho bản thân

- Tích cực vận dụng 5 biện pháp nêu trên trong tiến trình giảng dạy học phần phương pháp giáo dục thể chất.

3.2. Về phía sinh viên:

-   Soạn giáo án và chuẩn bị đồ dùng giảng dạy đầy đủ, chu đáo.

-   Tập giảng nghiêm túc, tích cực, quay lại các video clip tập giảng.

-   Yêu cầu hợp tác với giảng viên và các thành viên trong nhóm. Chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được giao. Hoàn thành nhiệm vụ giảng viên và nhóm trưởng giao.

-   Tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình chuẩn bị, và thực hành giảng dạy

-   Các sinh viên và các nhóm thẳng thắn, chân thành đưa ra các ý kiến đóng góp nhằm nâng cao kĩ năng giảng dạy cho bạn và cho chính bản thân mình

-   Có sự nhận xét, đánh giá công bằng, khách quan đối với các thành viên trong nhóm và các nhóm khác.

-   Thẳng thắn trao đổi, chia sẻ với giảng viên những băn khoăn, thắc mắc hoặc khó khăn trong quá trình thực hành tập giảng.

3.3. Hiệu quả mang lại

- Giảng viên củng cố sâu sắc những kiến thức lí luận về kĩ năng thực hành giảng dạy đồng thời nắm bắt được cụ thể từng ưu – hạn chế của sinh viên từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời giúp các em nâng cao được kĩ năng thực hành giảng dạy.

- Sinh viên phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc học tập và thực hành giảng dạy từ việc chuẩn bị đồ dùng, phương tiện dạy học, đến kĩ năng nói linh hoạt, mềm mại, các thủ thuật gây hứng thú hay kĩ năng chuyển tiếp hoạt động… đều được các em đưa ra các phương án và thực nghiệm để tìm ra biện pháp tối ưu. Qua những lần thử - sai – làm lại đó giúp người học nâng cao nhanh chóng các kĩ năng thực hành giảng dạy hoạt động học thể dục từ đó các em sẽ tự tin hơn trong quá trình thực hành thực tập sư phạm và hoạt động nghề nghiệp sau này.

Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy và học luôn là nhiệm vụ trọng tâm đối với mỗi giảng viên. Đổi mới phương pháp để hướng tới phát huy tinh thần tự học, tích cực, chủ động trong học tập của sinh viên. Để sinh viên khi ra trường có thể đạt chuẩn đầu ra, đáp ứng yêu cầu thực tế của các cơ sở giáo dục đòi hỏi mỗi  giảng viên phải toàn tâm, toàn ý, chịu khó đầu tư về mặt thời gian công sức cho không chỉ trong những giờ lên lớp mà còn thể hiện ở khâu chuẩn bị bài giảng, hệ thống câu hỏi, bài tập cho đến các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm thể hiện trong quá trình tổ chức dạy học.

Page 1 of 7

Thống kê truy cập

4642301
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tháng này
333
2042
8164
110235


Your IP:54.81.232.54

barbour kurtki peuterey kurtki barbour polska canada goose kurtka ugg buty ugg polska canada goose jakke belstaff danmark canada goose tilbud parajumpers dame belstaff jacket canada goose danmark canada goose jakke dame barbour jakke woolrich jakke canada goose b?rn jintropin preis somatropin kaufen hgh kaufen hygetropin kaufen jintropin kaufen jintropin hygetropin bestellen kamagra jelly australia kamagra australia
Go to top
moncler takki barbour takki canada goose takki canada goose ale woolrich takki parajumpers takki canada goose suomi belstaff takki ugg ale parajumpers gobi parajumpers homme doudoune parajumpers homme peuterey prix doudoune duvetica ugg bebe duvetica doudoune parajumpers outlet barbour pas cher doudoune peuterey belstaff pas cher duvetica femme doudoune duvetica femme