Ths. Nguyễn Hồng Nhung - Phòng Đào tạo
Khi tìm hiểu văn chương quá khứ của dân tộc, có một tác phẩm ta không thể bỏ qua đó là tập truyện truyền kì “Lan Trì kiến văn lục” của tác giả Vũ Trinh. Bởi lẽ, tác phẩm này không chỉ đánh dấu sự “cáo chung” của hình thức truyền kì (một hình thức sáng tác độc đáo, đóng góp đáng kể vào sự tiến triển của ý thức nghệ thuật Việt) mà còn thể hiện sự cách tân táo bạo của Vũ Trinh, góp phần mở ra một hướng đi mới cho văn xuôi trung đại Việt Nam. Tuy nhiên, những thông tin về tác giả, tác phẩm này còn khá thưa vắng, còn rất ít công trình hay bài nghiên cứu chuyên sâu về “ghi chép những điều mắt thấy tai nghe của Lan Trì”. Hi vọng những điều chúng tôi đề cập sau đây sẽ là một gợi mở thú vị để các em học sinh, sinh viên, các thầy cô giáo và những bạn đọc quan tâm tìm hiểu sâu và rộng hơn về “Lan Trì kiến văn lục” của tác giả Vũ Trinh – một danh nhân xứ Kinh Bắc.
Vũ Trinh - bậc thức giả uyên bác với mong muốn canh tân
Vũ Trinh (1759 - 1828) là người làng Liên Trì, tên khác là Xuân Lan, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc, nay là thôn Ngọc Quan - tên Nôm là làng Sen, xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Xuất thân trong một gia đình quan lại trí thức. Ông nội Vũ Trinh là Vũ Miên đậu Tiến sĩ đời Lê, cha ông là Vũ Thiều đậu Hương cống (Cử nhân), làm quan đến chức Tham Nghị. Từ nhỏ Vũ trinh đã được giáo dục cẩn thận, lại tỏ ra là người thông minh, học rộng, biết nhiều. Năm 17 tuổi, ông thi đỗ Hương tiến (Cử nhân) và được bổ chức Tri phủ Quốc Oai (thuộc Hà Nội ngày nay). Với một xuất thân và học vấn như vậy, lại đỗ đạt sớm, những tưởng cuộc đời của Vũ Trinh sẽ chỉ toàn là hanh thông, nhưng thế gian ai hiểu hết được chữ ngờ...
Năm 1787, sau khi Lê Chiêu Thống lên ngôi vua, ông được triệu về triều. Cũng trong năm này, tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm ra Bắc để đánh dẹp Nguyễn Hữu chỉnh, Vũ Trinh và cha đã bán hết sản nghiệp gia đình để giúp vua chạy nạn. Việc làm của Vũ Trinh cũng không quá khó hiểu, bởi ông muốn làm một người tôi trung. Hơn thế, gia đình ông đã chịu ơn nhà Lê, hưởng bổng lộc của nhà Lê, là một người có khí tiết ông không thể khoanh tay đứng nhìn nhà Lê sụp đổ. Nhưng Lê Chiêu Thống đã đi nhầm đường, phải chạy sang Trung Quốc, Vũ Trinh trở về ẩn thân tại Hồ Sơn (thuộc Hà Nam ngày nay). Tại đây ông dạy học và sưu tầm tài liệu, ghi chép những điều tai nghe, mắt thấy để viết tập truyền kì “Lan Trì kiến văn lục”. Những tưởng cuộc sống của Lan Trì Ngư giả cứ thế bình lặng trôi qua, bão táp chính trị đã buông tha cho ông. Nhưng năm 1802, sau khi nhà Tây Sơn bị đánh đổ, Vũ Trinh được nhà Nguyễn mời ra nhận chức Thị trung học sĩ tại triều (Phú Xuân, tức Huế ngày nay). Vốn là một tôi trung của nhà Lê, việc ra làm quan cho nhà Nguyễn có lẽ với Vũ Trinh là vạn bất đắc dĩ. Năm 1804, nhân việc đưa hài cốt vua Lê Chiêu Thống về nước, ông xin từ quan nhưng không được chấp thuận. Mặc dù không thực sự mong muốn dốc lòng phụng sự nhà Nguyễn nhưng Vũ Trinh cũng đã cố gắng làm tốt trọng trách của mình. Từ năm 1806 - 1815 là khoảng thời gian mà hoạn lộ của bậc túc nho họ Vũ khá hanh thông. Năm 1807, ông được cử làm Giám thị trường thi Sơn Tây. Năm 1809, ông được cử đi sứ sang Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc) dâng lễ cống. Trở về nước, ông nhận lệnh hiệp cùng Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành và Trần Hựu soạn bộ Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long - 22 quyển, 398 điều). Biết ông có tài, Tổng trấn Thành cho con là Nguyễn Văn Thuyên theo học ông....Nhưng “cuộc vui ngắn chẳng tày gang”, sau bao nhiêu cố gắng Vũ Trinh lại phải hứng chịu cái kết cục đau đớn và bi thảm đến với cuộc đời mình vào lúc tuổi đã xế chiều. Năm 1816, có người tố cáo Nguyễn Văn Thuyên làm thơ có ý phản nghịch. Vì là thầy dạy Thuyên, Vũ Trinh bị triệu vào triều. Mặc dù ông cố bênh vực học trò, Thuyên vẫn không khỏi tội. Chẳng những vậy, ông còn bị lột hết phẩm hàm và bị đày vào Quảng Nam. Sau 12 năm, Vũ Trinh được ân xá, nhưng ông bị bệnh nặng trở về quê nhà được vài hôm thì mất.
Có thể thấy, giống như nhiều trí thức nho học nổi tiếng cùng thời như Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ...Vũ Trinh sinh ra trong thời loạn và là “kẻ nạn của vận hội”, nhưng “kẻ nạn” Vũ Trinh có một cuộc đời thăng trầm hơn và một kết cục đau đớn hơn. Nhưng một điều chắc chắn, Vũ Trinh là một trí thức uyên bác, học rộng, biết nhiều, một tác gia lớn, văn chương uẩn súc và ông luôn mong muốn dùng tài năng của mình để thay đổi những thứ đã cũ kĩ, sáo mòn.
Có thể thấy, giống như nhiều trí thức nho học nổi tiếng cùng thời như Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ...Vũ Trinh sinh ra trong thời loạn và là “kẻ nạn của vận hội”. Nhưng ông cũng là một trí thức uyên bác, học rộng, biết nhiều, một tác gia lớn, và ông luôn mong muốn dùng tài năng của mình để thay đổi những thứ đã cũ kĩ, sáo mòn.
Khi biên soạn Hoàng Việt luật lệ, Vũ Trinh đã thể hiện tư tưởng canh tân của mình bằng việc bổ sung thêm những điều luật mới, cụ thể hơn về hôn nhân, gia đình so với Quốc triều hình luật thời Hồng Đức. Có nhiều ý kiến của giới nghiên cứu cho rằng bộ luật này “củng cố các phong tục, tập quán cổ truyền tốt đẹp của dân tộc cùng với nhiều định chế rất tiến bộ” (theo Huỳnh Công Bá, Lịch Sử Việt Nam, NXB Thuận Hóa, 2007). Không chỉ soạn luật, Vũ Trinh còn là một tác gia lớn của văn học trung đại Việt Nam. Ông là tác giả các tác phẩm như: Cung Oán Thi Tập, Lan Trì Kiến Văn Lục, Sứ Yên Thi Tập, Ngô Tộc Truy Viễn, Đàn Ký... Danh sĩ Ngô Hoàng trong bài tựa quyển Kiến văn lục đã ca tụng ông: “Ông sẵn ôm tài chí kinh bang tế thế, song gặp thời ngang trái, mới lẫn tăm hơi chốn lều tranh (...) Tài học uẩn súc của ông thật hơn người nhiều”. Vũ Trinh cũng là một trong những người đầu tiên bình giải Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du. Khác với các tác giả Mộng Liên Đường Chủ nhân, Phạm Quý Thích, Nguyễn Văn Thắng... thường qua những bài thơ vịnh hay những bài Tựa viết về Truyện Kiều mà bộc lộ cách nhìn, chính kiến của mình đối với tác phẩm, Vũ Trinh đã đi sâu vào tác phẩm để không chỉ bộc lộ cách nhìn, chính kiến mà còn phẩm bình về tài nghệ của tác giả. Đó là một lối tư duy thẩm bình độc đáo, mới mẻ mang tính canh tân so với đương thời. Nhưng có lẽ, tư tưởng canh tân của Vũ Trinh bộc lộ rõ nét nhất trong sáng tác văn chương, qua tập truyện duy nhất còn lưu lại cho hậu thế - tập “Lan Trì kiến văn lục”. Với tư tưởng canh tân táo bạo, tác giả Vũ Trinh đã gieo xuống cánh đồng văn xuôi trung đại Việt Nam một hạt giống mới, hứa hẹn vụ mùa bội thu.
“Lan Trì kiến văn lục” - hạt giống mới trên cánh đồng văn xuôi trung đại Việt Nam
Thế kỉ XVIII - giữa XIX là giai đoạn lịch sử đầy bão táp và biến động. Những cũ kĩ, bụi bậm của thời đại bị đập phá từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng. Cùng với thơ ca, văn xuôi tự sự có bước chuyển mới: phản ánh trực tiếp và tức thời những điều mắt thấy, tai nghe, những điều đang xảy ra xung quanh. Dấu hiệu chuyển biến rõ nét nhất đó là mong muốn “canh tân” truyện ngắn truyền kì của các tác giả: Đoàn Thị Điểm; Phạm Quý Thích, Vũ Trinh... Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm mở đầu sự đổi mới thể truyền kì bằng việc thêm một chữ ‘tân”. Trong “Truyền kì tân phả” bà đã cố gắng phản ánh trung thành người thật, việc thật, những diễn biến của lịch sử - xã hội đương thời, nhưng chính vì quá chú trọng nguyên mẫu mà đôi cánh truyền kì bị vặt trụi đi. Các thiên truyện của nữ sĩ không thể đưa người đọc bay vào thế giới ảo huyền đẹp đẽ - một đặc trưng cơ bản của truyện truyền kì, chúng giống với câu chuyện kể về người thật việc thật mang dáng dấp truyền kì hơn.
Đến “Lan Trì kiến văn lục” thì thể loại truyền kì thực sự đã hoàn tất vai trò của nó trong lịch sử văn học để mở ra một hướng đi mới cho văn xuôi trung đại Việt Nam, có lẽ bởi Vũ Trinh “khá nhạy bén với cái mới” (từ dùng của GS. Nguyễn Huệ Chi trong Từ điển văn học, bộ mới, tr. 2034). Biểu hiện đầu tiên là trong tên gọi, tác giả họ Vũ không gọi các thiên truyện của mình là truyền kì nữa mà gọi là “kiến văn” - những điều trông thấy, biết được. Hơn nữa, để minh chứng rằng truyện của mình viết ra là có thật, Vũ Trinh thường ghi rõ địa chỉ của nhân vật như “cô gái này người Chương Đức, tỉnh Sơn Nam” (truyện Người ca nữ họ Nguyễn), hoặc cho biết ai đã chứng kiến và kể lại sự việc ấy, chẳng hạn “ông Hoàng Xuân Viên làm quan tể ở huyện Kim Thành đã chứng kiến việc này và kể lại với ta” (truyện Rồng). Tất cả những “chỉ dẫn” kiểu này, tác giả đều ghi vào cuối mỗi truyện và chúng được coi là thành phần không thể thiếu của thiên truyện ấy. Lối viết về “người thật, việc thật” như vậy hoàn toàn không phải của truyền kì (bởi trong truyện truyền kì, yếu tố huyền ảo, kì lạ đóng vai trò hết sức quan trọng), Vũ Trinh đã vô tình (hay cố ý?) sáng tạo ra một lối viết mới, với những câu chuyện đậm chất đời thường.
Đọc các thiên truyện trong “Lan Trì kiến văn lục” người đọc sẽ không còn thấy (hoặc thấy rất ít) các yếu tố hoang đường kì ảo. Những yếu tố này, nếu có chỉ là một chút gia vị thêm vào cho câu chuyện tăng tính sinh động mà không quyết định đến sự phát triển của mạch truyện. Các bài thơ dài, ngắn xen vào giữa mạch truyện (cũng là một nét tiêu biểu của truyền kì) không còn xuất hiện trong tập truyện của Vũ Trinh. Tác giả đã sử dụng một bút pháp rất mực tinh giản, không có dấu vết của sự bay bớm rườm rà để phản ảnh những vấn đề đời sống....
Khi xây dựng các nhân vật, Vũ Trinh cũng đã bước đầu quan tâm đến việc miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật (trong văn xuôi trung đại việc thể hiện tâm trạng nhân vật thường thông qua hành động chứ rất ít được miêu tả trực tiếp). Trong truyện Ca nữ họ Nguyễn, tác giả đã thể hiện khá thành công tình cảm của cô ca nữ khi lần đầu tiên nhìn thấy Vũ Khâm Lân. Cô dường như đã trúng phải tiếng sét ái tình khi ánh mắt cô trên sân khấu chạm ánh mắt chàng trai đứng nép trong bóng tối, sau một cây cột. Tác giả đã để cô đứng lặng trước bao người, “miệng há ra mà không thể hát tiếp được” và trong lòng cuộn lên một thứ cảm giác thật kì lạ... Tình cảm bi thương của cô gái trong Chuyện tình ở Thanh Trì cũng được tái hiện khá sinh động, đặc biệt là thời điểm khi cô biết người yêu của mình đã ra đi. Cô không khóc, nén chặt nỗi đau trong lòng, chỉ lặng lẽ như cái bóng, âm thường thương nhớ để rồi đến khi nỗi đau buồn trở thành sự tuyệt vọng, cô đã lìa bỏ cõi đời...
Không chỉ thể hiện sự cách tân trên phương diện hình thức nghệ thuật, tác giả Vũ Trinh còn bộc lộ khả năng sáng tạo độc đáo, mới mẻ của mình trên phương diện nội dung. Trong “Lan Trì kiến văn lục”, với 45 truyện ngắn, nhà văn hầu như đã tránh được cái hạn chế cố hữu của các cây bút Nho gia là thường cứ thấy gì ghi lấy, khiến cho tác phẩm khô khan, giống như một bản ghi chép hơn là một truyện ngắn cuốn hút. Tác giả đã thổi vào trong những bản ghi chép khô khan ấy nhiều suy tư, trăn trở về con người, về xã hội, nhiều ước mơ, khát vọng đẹp đẽ bị cấm đoán và cả các vấn đề hết sức nóng hổi của cuộc sống hiện tại đang trôi chảy...
Vũ Trinh rất nhạy cảm trước những vận động mới mẻ trong đời sống xã hội đương thời, và bằng văn chương, ông đã tái hiện cho người đọc thấy một xã hội đang xuống cấp về mặt đạo đức. Trong xã hội đó có những kẻ lạm dụng quyền uy, sống hoang dâm (truyện Hầu), có kẻ tàn ác, mất hết nhân tính đến mức giết cả con (truyện Hiệp hổ)...Phản ánh những vấn đề đó, ngòi bút của nhà Nho Vũ Trinh đặc biệt nghiêm cẩn. Tuy nhiên, giữa một hiện thực nhiều bi kịch, tác giả vẫn nhìn thấy được phẩm chất cao quý của con người, vẫn tỏ ra lạc quan vào cuộc sống, tin vào tình yêu. Đọc “Lan Trì kiến văn lục” ta có thể bắt gặp nhiều nhân vật nữ, dẫu bất hạnh nhưng vẫn tràn đầy tình yêu thương, lòng vị tha, sự thủy chung...Người con gái dệt vải khao khát yêu thương, dù phải chấp nhận cuộc hôn nhân sắp đặt, bị chồng ghen tuông đánh chết nhưng vẫn giữ trọn tình yêu chung thủy với người tình cũ (truyện Tái sinh). Cô kĩ nữ họ Nguyễn đem lòng yêu chàng trai nghèo tài ba Vũ Khâm Lân đã dốc lòng lo cho chàng ăn học, đến khi chàng đỗ đạt và phụ mình cô vẫn chấp nhận không một lời oán thán. Cô đã chọn cách ra đi lặng lẽ để chàng có cuộc sống yên bình, hạnh phúc bên người đàn bà khác (truyện Ca nữ họ Nguyễn). Cô con gái phú ông đẹp người, đẹp nết trong Chuyện tình ở Thanh Trì đem lòng yêu chàng lái đò nghèo, bị cha ngăn cấm đã ôm mối hận tình mà chết. Tình yêu chung thủy, đau đớn của cô đã kết thành một khối trong ngực “to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ”. Chỉ đến khi người cô yêu, sau ba năm biền biệt trở về, nhỏ những giọt nước mắt khóc thương cô lên đó thì khối đỏ mới “tan thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi”...Tình yêu của các nhân vật do Vũ Trinh tạo nên thật say đắm, đến mức nhục cảm và tác giả đã vượt qua những định kiến Nho giáo để thể hiện nó như là hạnh phúc chính đáng của người phụ nữ. Trong các câu chuyện tình yêu, Vũ Trinh cũng để cho các chàng trai, cô gái tự đến với nhau, thậm chí, người phụ nữ thường chủ động bày tỏ tình cảm của mình (Ca nữ họ Nguyễn; Chuyện tình ở Thanh Trì; Lan quận công phu nhân; Trạng nguyên họ Nguyễn...). Qua các nhân vật, nhà văn đã gián tiếp ngợi ca, cổ súy cho tình yêu tự do, vượt ra khỏi khuôn khổ của lễ giáo phong kiến...
Có thể thấy, bằng 45 thiên truyện trong “Lan Trì kiến văn lục” Vũ Trinh đã rất thành công trong việc cách tân truyện truyền kì cả về mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Tập truyện đã đánh dấu sự “cáo chung” của thể truyền kì và mở ra một hướng đi mới mang tính hiện đại hơn. Chính vì vậy mà từ khoảng giữa thế kỉ XX trở lại đây, khi cho tái bản tập truyện này, các nhà biên soạn không gọi “Lan Trì kiến văn lục” là truyện truyền kì mà gọi là truyện ngắn trung đại. Điều này lí giải vì sao khi lựa chọn Con hổ có nghĩa (trích trong “Lan Trì kiến văn lục”) để đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, người soạn sách lại chỉ gọi thiên truyện này là “Truyện trung đại Việt Nam” mà không gọi theo đúng hình thức thể loại của nó là truyện truyền kì.
Bản thân truyện Con hổ có nghĩa (Nghĩa hổ) cũng là một minh chứng đầy thuyết phục cho tư tưởng canh tân của nhà Nho - tác giả Vũ Trinh. Truyện mang dáng dấp của một truyện ngụ ngôn hiện đại hơn là truyện truyền kì. Hình tượng con hổ là biểu tượng để tác giả gửi gắm những suy tư đầy tính triết lí về cuộc đời, về các mối quan hệ trong xã hội. Những đặc điểm quan trọng của hình thức truyền kì như các bài thơ, yếu tố ảo huyền, nhân vật kì lạ hầu như vắng bóng. Việc con hổ biết nói tiếng người, có hành động và suy nghĩ, tình cảm như con người không khiến người đọc nghĩ nó là nhân vật kì lạ, ảo huyền mà chỉ đơn thuần là sự nhân cách hóa loài vật để tác giả biểu đạt tư tưởng dễ dàng hơn. Ngôn ngữ trong truyện hết sức ngắn gọn, mộc mạc, không hề được gọt dũa, hoa mĩ và cũng rất ít điển tích, điển cố... Tác giả cũng bộc lộ nét tư duy độc đáo, mới lạ thông qua việc ngợi ca chúa sơn lâm để phủ định mạnh mẽ thực trạng xã hội thối nát, điên đảo đương thời và kêu gọi mọi người hãy sống nhân văn nếu không muốn trở thành kẻ còn tồi tệ hơn cả thú dữ.
Trong “Lan Trì kiến văn lục” ngoài truyện Nghĩa hổ (Hổ có nghĩa) còn có truyện Hiệp hổ (Hổ hào hiệp) và truyện Nhân hổ (Hổ nhân đức). Tại sao có nghĩa, hào hiệp, nhân đức, những phẩm chất tốt đẹp của con người lại được tác giả gửi gắm vào loài vật điển hình cho thú tính? Có một nguyên tắc thẩm mĩ mà người xưa đề cao trong văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung, đó là ý nghĩa càng kín đáo càng thành công. Ở đây, Vũ Trinh dùng chuyện hổ để nói chuyện người, dùng khẳng định để phủ định. Đương thời, xã hội phong kiến suy đồi, cương thường điên đảo, có những người có thể vì danh lợi mà bất nhân, bất nghĩa. Nhà văn phủ định thực trạng đó bằng việc ngợi ca những phẩm chất đối lập có ở chúa sơn lâm. Ông cho chúng ta thấy rằng, người không biết sống theo những giá trị thanh cao thì còn thua loài vật. Theo chúng tôi, đó mới thực sự là ý nghĩa của thiên truyện này.
Thực tế cho thấy, nhiều truyện ngắn đăng trên tạp chí Đông Dương, Nam Phong hồi đầu thế kỉ XX ở nước ta, ít nhiều ảnh hưởng lối viết của Vũ Trinh trong “Lan Trì kiến văn lục”. Tiếc rằng, hạt giống mới lạ mà Vũ Trinh gieo xuống cánh đồng Văn học trung đại Việt Nam đã không được nhân rộng vì những tác động của hoàn cảnh lịch sử, vì biến động của bối cảnh văn hóa, văn học. Nếu nước ta không chịu ách đô hộ của Thực dân Pháp, nếu nền văn học của chúng ta không chịu sự ảnh hưởng quá mạnh mẽ của văn học phương Tây thì có lẽ văn xuôi Việt sẽ theo hướng của những tác phẩm như “Lan Trì kiến văn lục” mà tiến lên.
Tài liệu tham khảo
1. Vũ Trinh, Lan trì kiến văn lục (Hoàng Văn Lâu dịch). Nxb Thuận Hóa, 2004.
2. Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (tập 1 - Truyện ngắn). Nxb Giáo dục, H, 1997.
3. Nguyễn Đăng Na, Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam (tập 2). Nxb ĐHSP, H, 2007.
4. Sách giáo khoa Ngữ văn 6, tập 1. Nxb Giáo dục, H, 2002.
5. Sách Giáo viên Ngữ văn 6, tập 1. Nxb Giáo dục, HN, 2002.
-
Lịch công tác
-
Tin tức - Sự kiện
-
Hoạt động của các đơn vị
-
Hoạt động HSSV
-
CHÀO MỪNG 80 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG 8 THÀNH CÔNG (19/8/1945-19/8/2025) VÀ QUỐC KHÁNH NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM (02/9/1945-02/9/2025
-
CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LẦN THỨ XVI, NHIỆM KỲ 2025-2030
-
ĐẢNG BỘ BỘ PHẬN TRƯỜNG CĐSP BẮC NINH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC TUYÊN TRUYỀN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG
-
Đại hội Đảng bộ Trường CĐSP Bắc Ninh lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025 - 2030
-
Chuyên mục


