Th.s Nguyễn Thị Thu Viện Trung tâm BD-NN,TH
Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726–1784) được nhân loại và người đời tôn vinh qua các danh xưng tiêu biểu như "túi khôn của thời đại", "nhà bác học lớn nhất thời phong kiến", và "ngôi sao sáng trên bầu trời văn hiến Việt Nam". Ông được mệnh danh là nhà bác học lớn nhất Việt Nam thời phong kiến nhờ tư chất thần đồng, sự nghiệp trước tác đồ sộ và tầm hiểu biết uyên thâm vượt trội trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau.
1. Thân thế và khoa bảng
Lê Quý Đôn tên thật là Lê Danh Phương (tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường), sinh ngày 2/8/1726 tại huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Ông là con trai tiến sĩ Lê Trọng Thứ. Là một thần đồng ham học với trí nhớ siêu việt, từ năm 5 tuổi ông đã đọc được Kinh Thư, 11 tuổi thuộc làu sử sách và 14 tuổi đã học xong các kinh điển Nho giáo. Đường khoa bảng của ông vô cùng rực rỡ: ông đỗ đầu thi Hương (Giải nguyên) năm 17 tuổi, đỗ Hội nguyên năm 26 tuổi và giữ nhiều chức quan lớn trong triều đình Lê Trung Hưng.
Trải qua nhiều chức vụ quan trọng dưới triều Lê - Trịnh, ông từng làm quan ở kinh đô, đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) và làm Hiệp trấn Thuận Hóa. Khi làm quan, ông luôn đề cao việc học phải đi đôi với thực tiễn, quan tâm đến đời sống nhân dân và tình hình xã hội ở cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong.
Khi làm quan, Lê Quý Đôn đã để lại nhiều đóng góp nổi bật trên cả lĩnh vực chính trị, quân sự lẫn kinh tế - xã hội. Là một vị quan thanh liêm, thẳng thắn, ông luôn đề cao tinh thần "kinh bang tế thế", lấy việc phụng sự nhân dân làm cốt lõi. Trong thời gian trấn giữ vùng đất Thuận Hóa, ông đã góp phần ổn định trật tự trị an, cải cách chính sách thuế khóa nhẹ nhàng và khuyến khích phát triển nông nghiệp, giúp đời sống người dân thêm ấm no. Bên cạnh đó, với tư duy của một nhà bác học, ông đã tích cực khảo sát địa lý, lịch sử và phong tục địa phương để đưa ra những đề xuất quản lý đất nước hiệu quả. Những cống hiến thực tiễn của ông đã khẳng định bản lĩnh của một vị quan đại thần tài đức vẹn toàn.
2. Sự nghiệp sáng tác đồ sộ với nhiều tác phẩm có giá trị
Lê Quý Đôn để lại kho tàng tác phẩm đồ sộ với gần 40 bộ sách thuộc nhiều lĩnh vực khoa học như bách khoa thư, văn học, lịch sử, địa lí. Nổi bật nhất là cuốn Vân đài loại ngữ, một công trình khảo cứu tổng hợp các kiến thức về triết học, văn học, thiên văn, địa lý, y học và xã hội học thời bấy giờ.
Đóng góp lớn nhất của ông về lĩnh vực lịch sử và địa lí là tác phẩm Phủ biên tạp lục (ghi chép toàn diện về địa lý, lịch sử, kinh tế vùng đất Thuận Hóa - Quảng Nam và khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa). Ngoài ra, còn các tác phẩm giá trị khác như Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục. Ông cũng đóng góp lớn cho văn học Việt Nam như sáng tác nhiều tập thơ văn có giá trị cao như Quế Đường thi tập và biên soạn Toàn Việt thi lục, tuyển chọn và lưu giữ gần 900 trăm bài thơ của các tác giả từ thời Lý đến thời Lê, góp phần bảo tồn di sản thơ ca dân tộc. Trong lĩnh vực tư tưởng triết học và Giáo dục, ông đề xướng phương pháp nghiên cứu thực tiễn, coi trọng tri thức khoa học, đồng thời tiên phong cổ vũ tư tưởng "học đi đôi với hành" và cải cách giáo dục, thi cử. Nhờ những cống hiến vượt tầm thời đại, ông không chỉ là niềm tự hào của tri thức Việt Nam mà còn được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới. Trong lĩnh vực tư tưởng ngôn ngữ, ông là người đi đầu trong việc coi tiếng Việt và văn tự là đối tượng nghiên cứu khoa học độc lập.
3. Đóng góp đối với văn hóa Việt Nam và thế giới
Nhà bác học Lê Quý Đôn là một trong những đại trí thức kiệt xuất nhất, đặt nền móng bền vững cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Với trí tuệ uyên bác, ông đã tổng kết và hệ thống hóa toàn bộ kho tàng tri thức thời đại qua di sản tri thức đồ sộ. Những tác phẩm tiêu biểu của ông không chỉ ghi chép tỉ mỉ về lịch sử, địa lý, phong tục mà còn lưu giữ sâu sắc giá trị văn hóa xã hội, trực tiếp bảo tồn di sản văn học trung đại quý giá. Không chỉ vậy, tư tưởng học đi đôi với hành cùng tinh thần đưa tiếng Việt vào nghiên cứu bài bản của ông đã góp phần nâng tầm vị thế văn hóa dân tộc và soi sáng tri thức cho các thế hệ mai sau.
Lê Quý Đôn không chỉ là nhà bác học lỗi lạc của Việt Nam mà còn là danh nhân văn hóa tầm vóc thế giới. Đóng góp nổi bật nhất của ông là khả năng hệ thống hóa, tổng kết tri thức Đông Á qua bộ bách khoa thư đồ sộ Vân đài loại ngữ, thể hiện tầm nhìn triết học và khoa học vượt thời đại. Qua công trình Phủ biên tạp lục và Toàn Việt thi lục, ông ghi chép chính xác địa lý, lịch sử, đồng thời bảo tồn di sản thơ ca dân tộc, khẳng định chủ quyền và bản sắc Việt Nam trên bản đồ văn hóa nhân loại.
Với tinh thần học đi đôi với hành cùng thái độ nghiên cứu khách quan, tư tưởng tiến bộ của ông đã vượt khỏi giới hạn quốc gia. Năm 2023, UNESCO đã vinh danh ông, khẳng định giá trị bền vững và những cống hiến tri thức to lớn của Lê Quý Đôn đối với kho tàng văn hóa thế giới. Nghị quyết vinh danh và quyết định cùng tham gia kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn đã được UNESCO thông qua vào ngày 31/10/2025 (tại Kỳ họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 43 diễn ra ở Samarkand, Uzbekistan). Sự kiện vinh danh và kỷ niệm sẽ chính thức diễn ra vào năm 2026.
Hướng tới kỷ niệm 300 năm ngày sinh Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 2026), trường CĐSP Bắc Ninh cần triển khai nhiều hoạt động thiết thực để tri ân và lan tỏa di sản của ông như: Tổ chức các hội thảo khoa học, cuộc thi tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của Lê Quý Đôn, giới thiệu các công trình bách khoa của ông như Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục để đưa tri thức đến gần hơn với các giảng viên và sinh viên. Ngoài ra, cần tôn vinh và phát huy giá trị di sản của Lê Quý Đôn, tổ chức trải nghiệm tại các di tích lịch sử gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của ông đồng thời phát động các phong trào thi đua học tập, đổi mới sáng tạo và nghiên cứu khoa học. Những hoạt động nàykhông chỉ nhằm tôn vinh một Danh nhân văn hóa thế giới mà còn khơi dậy khát vọng cống hiến cho thế hệ trẻ.
4. Tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo
Nhà bác học Lê Quý Đôn là tấm gương sáng ngời về tinh thần hiếu học và thái độ tận tụy với tri thức, mang lại nhiều bài học giá trị cho học sinh, sinh viên ngày nay. Thế hệ trẻ ngày nay có thể học hỏi từ nhà bác học Lê Quý Đôn nhiều giá trị tinh thần vô giá, trước hết là tinh thần tự học và ý chí rèn luyện không ngừng. Ông là người truyền cảm hứng mạnh mẽ về tinh thần tự học và khát vọng vươn lên. Dù sở hữu trí thông minh thiên bẩm, ông chưa bao giờ ngừng đọc sách, nghiên cứu để mở rộng hiểu biết trên mọi lĩnh vực. Ngay từ nhỏ, ông đã luôn đào sâu suy nghĩ, miệt mài đọc sách để tích lũy kho tàng tri thức bao la. Trong học tập, ông là tấm gương về phương pháp học đi đôi với hành cùng tư duy khoa học thực tiễn. Học sinh, sinh viên có thể rèn luyện ở ông thói quen quan sát, kiểm chứng và hệ thống hóa kiến thức, tư duy phản biện và thái độ thực tiễn; không học vẹt hay tiếp thu thụ động mà luôn kiểm chứng, hệ thống hóa và áp dụng kiến thức vào thực tế đời sống. Bên cạnh đó, tinh thần phục vụ cộng đồng và lòng yêu nước qua công việc phụng sự nhân dân của ông là bài học lớn giúp giới trẻ sống có trách nhiệm, bản lĩnh, nỗ lực cống hiến để khẳng định giá trị bản thân và vị thế đất nước. Hơn nữa, là những người trẻ trên vùng đất di sản Kinh Bắc, mỗi học sinh, sinh viên cần học hỏi tấm gương về giữ gìn di sản văn hóa dân tộc của Lê Quý Đôn; tích cực tìm hiểu, bảo tồn và truyền cảm hứng về các giá trị truyền thống, luôn có ý thức giữ gìn, quảng bá di sản văn hóa Kinh Bắc ra thế giới, đồng thời đem tài trí phụng sự quê hương. Chắc chắn tuổi trẻ Việt nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng sẽ nỗ lực hết mình để tiếp nối xứng đáng truyền thống của các bậc tiền nhân.
-
Lịch công tác
-
Tin tức - Sự kiện
-
Hoạt động của các đơn vị
-
Hoạt động HSSV
-
CHÀO MỪNG 80 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG 8 THÀNH CÔNG (19/8/1945-19/8/2025) VÀ QUỐC KHÁNH NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM (02/9/1945-02/9/2025
-
CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LẦN THỨ XVI, NHIỆM KỲ 2025-2030
-
ĐẢNG BỘ BỘ PHẬN TRƯỜNG CĐSP BẮC NINH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC TUYÊN TRUYỀN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG
-
Đại hội Đảng bộ Trường CĐSP Bắc Ninh lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025 - 2030
-
Chuyên mục


