Khoa Tiểu học - Mầm non
canada goose rea canada goose barn barbour jacka duvetica jacka moncler jacka woolrich jacken canada goose damen parajumpers jacke canada goose outlet belstaff jacken moncler jacken canada goose schweiz barbour jacken parajumpers outlet peuterey jacken woolrich parka belstaff schweiz ugg boots schweiz barbour jacke ugg boots doudoune moncler moncler femme canada goose femme canada goose suisse parajumpers solde parajumpers femme ugg suisse

Khoa Tiểu học - Mầm non

         

            

          

          Khóa luận tốt nghiệp là một văn bản nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng. Đồng thời, đây là hình thức thay thế cho thi tốt nghiệp cuối khóa, đánh dấu sự hoàn thành chặng đường học tập của mỗi sinh viên. Số lượng sinh viên đủ điều kiện được làm khóa luận tốt nghiệp không nhiều. Do đó, khóa luận có ý nghĩa hết sức đặc biệt và được đầu tư công phu từ phía sinh viên và cả giảng viên hướng dẫn. Thực tế hướng dẫn sinh viên các khóa làm khóa luận tốt nghiệp, bản thân tôi nhận thấy có nhiều sinh viên gặp nhiều khó khăn khi chưa biết cách thức nghiên cứu và viết một khóa luận tốt nghiệp do trước đó các em chưa từng làm tiểu luận hoặc bài tập lớn. Vì vậy, tôi xin đưa ra một số định hướng giúp sinh viên cuối khóa đủ điều kiện làm khóa luận có thể hoàn thành tốt sản phẩm nghiên cứu của mình.

  1. Lựa chọn đề tài phù hợp

               Đề tài khóa luận tương đối đa dạng. Khi lựa chọn phân môn làm khóa luận, sinh viên nên có định hướng sẵn một số đề tài nghiên cứu. Sinh viên nên lựa chọn đề tài từ những vấn đề thực tế môn học, những vấn đề thực tế phổ thông hoặc những đơn vị kiến thức có thể mở rộng, đào sâu. Đề tài có thể được thể hiện ngay trong những vấn đề mà giảng viên đã nêu trong mỗi bài giảng.

               Ví dụ: Trong các học phần Văn học, sinh viên có thể lựa chọn làm những đề tài liên quan đến văn học dân gian hoặc văn học viết. Trong văn học dân gian, sinh viên có thể khai thác các đề tài thuộc các thể loại văn vần dân gian (ca dao, tục ngữ, câu đố, đồng dao) hoặc các thể loại truyện dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười). Mỗi thể loại, sinh viên có thể khai thác những vấn đề cụ thể như nhân vật, cốt truyện, những yếu tố nghệ thuật trong thể loại. Trong mảng văn học viết, sinh viên có thể lựa chọn đề tài liên quan đến các đặc trưng sáng tác, đặc trưng nghệ thuật hoặc nội dung trong một số sáng tác của các nhà văn, nhà thơ viết cho thiếu nhi (Trần Đăng Khoa, Phạm Hổ, Võ Quảng, Hồ Chí Minh, Tô Hoài…)

               Trong các học phần Tiếng Việt, sinh viên có thể lựa chọn đề tài liên quan đến các hiện tượng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách của các đơn vị ngôn ngữ trong một nhóm ngữ liệu có chủ định (Ví dụ như cấu tạo từ, đặc điểm câu, các phương tiện và biện pháp tu từ).

               Sinh viên phải có hứng thú với đề tài đã lựa chọn hoặc có những hiểu biết căn bản về vấn đề được nêu trong đề tài. Như vậy, việc phác thảo đề cương nghiên cứu sẽ được tiến hành thuận lợi hơn.

               Đề tài phải có quy mô phù hợp với yêu cầu của một khóa luận tốt nghiệp. Đề tài không nên quá rộng cũng không quá hẹp trong dung lượng khoảng 50 trang của khóa luận. Đề tài phải có ý nghĩa thực tiễn hoặc có giá trị nghiên cứu nhất định.

  1. Xây dựng đề cương đề tài

          Việc phác thảo đề cương đề tài phải được định hình ngay sau khi chọn được đề tài. Đề cương chính là những nội dung cơ bản, những ý chính sẽ được triển khai trong đề tài. Quan trọng nhất trong đề cương của đề tài chính là hệ thống chương và tên các chương.

          Đề cương càng chi tiết càng thể hiện hiểu biết cặn kẽ của sinh viên với đề tài. Đề cương chính là khung định hướng để sinh viên tìm tài liệu và viết.

          Đề cương có thể được chỉnh sửa, bổ sung, thay đổi trong quá trình sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu trên cơ sở đồng thuận giữa sinh viên và giảng viên hướng dẫn khóa luận.

          Ngay khi xác định được tên đề tài, sinh viên cần vạch ra những vấn đề liên quan đến đề tài của mình như: Đề tài được xây dựng trên cơ sở lí luận nào? Thực trạng của vấn đề ấy ra sao? Biện pháp, giải pháp thế nào?

          Đề cương của một khóa luận thường là bản phác thảo gồm 3 chương. Chương 1 trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2 có thể là những khảo sát, điều tra, thống kê của sinh viên về vấn đề thuộc đề tài; những nguyên nhân. Chương 3 là những đánh giá, nhận xét hoặc đề xuất những biện pháp, giải pháp cải thiện thực trạng. Trong mỗi chương, sinh viên cần chia nhỏ các đề mục là những vấn đề nhỏ có tính ngang hàng hoặc tầng bậc và phải được đánh số một cách logic.

Ví dụ bố cục của đề tài: Thế giới nhân vật trong truyện cổ tích trong chương trình TVTH

Chương 1: Tìm hiểu chung về truyện cổ tích.

Chương 2: Các kiểu nhân vật trong truyện cổ tích ở chương trình tiếng Việt Tiểu học.

        Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện cổ tích ở chương trình tiếng Việt Tiểu học.

          Từ bố cục ba chương này, sinh viên sẽ lựa chọn các vấn đề nhỏ để triển khai tiếp trong nội dung từng chương.

  1.      Lập kế hoạch nghiên cứu

          Khóa luận tốt nghiệp được triển khai trong thời gian tương đối dài. Mỗi sinh viên có hơn 4 tháng để thực hiện khóa luận của mình. Tuy nhiên, đa số sinh viên tương đối lúng túng không biết bắt đầu công việc từ đâu. Do đó, lập kế hoạch nghiên cứu vừa giúp sinh viên định hình được khối lượng công việc, vừa giúp sinh viên phân bố thời gian hợp lý và chủ động hoàn thành khóa luận của mình.

          Kế hoạch nghiên cứu cần cụ thể hóa thời gian tương ứng với nội dung công việc và sinh viên phải thực hiện nghiêm túc kế hoạch nghiên cứu nhằm hoàn thành khóa luận đúng hạn.

  1. Tìm, đọc và xử lý tài liệu tham khảo

          Tìm tài liệu là một công việc quan trọng mà mỗi sinh viên thực hiện khóa luận đều phải thực hiện. Mỗi đề tài của sinh viên lại thuộc một lĩnh vực, một phạm vi khác nhau. Tuy nhiên, mỗi đề tài khóa luận đều phải xây dựng trên những cơ sở lí luận có uy tín. Cơ sở lí luận ấy được thu thập từ nhiều nguồn, nhiều tài liệu và thường mang tính chất liên môn nên khối lượng tài liệu mà sinh viên cần tìm tương đối nhiều. Có rất nhiều nguồn tài liệu mà sinh viên có thể tìm như giáo trình, sách tham khảo, bài báo, tạp chí ở cả dạng viết hoặc đã được số hóa trên internet.

          Nguồn tài liệu rất đa dạng nhưng sinh viên phải tìm những tài liệu có kiểm duyệt, có cơ sở khoa học hoặc các trang web có uy tín. Sinh viên có thể nhờ giảng viên hướng dẫn cung cấp tên các đầu sách hoặc tên các bài báo tiện cho việc tra cứu và tìm tư liệu.

          Đọc và xử lý tài liệu tham khảo được tiến hành đồng thời hoặc ngay sau khi sinh viên tìm được tài liệu tham khảo. Sinh viên cần đọc có định hướng, đọc và lựa chọn những đoạn, những đơn vị kiến thức có liên quan trực tiếp đến đề tài của mình. Khi ghi chép lại hoặc trích dẫn những đơn vị kiến thức ấy, sinh viên cần nhớ nguồn tài liệu và có trích dẫn xuất xứ cụ thể.

Tài liệu tham khảo rất nhiều. Tuy nhiên, sinh viên không được lệ thuộc vào tài liệu tham khảo. Tài liệu tham khảo giúp gợi ý những hướng nghiên cứu đã được triển khai, giúp sinh viên lựa chọn hướng nghiên cứu của bản thân và tạo cơ sở lí luận và thực tiễn cho những nghiên cứu của sinh viên chứ không thể trở thành nội dung nghiên cứu chính.       

  1. Trao đổi với giảng viên hướng dẫn

               Việc trao đổi với giảng viên hướng dẫn cần được duy trì thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình thực hiện khóa luận. Giảng viên hướng dẫn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, định hướng và kiểm duyệt nội dung và hình thức của khóa luận. Ngay từ khi nhận đề tài, sinh viên cần trao đổi, thống nhất với giảng viên hướng dẫn để hình thành tên đề tài. Tiếp đó, giảng viên và sinh viên sẽ cùng xây dựng đề cương nghiên cứu và lập kế hoạch nghiên cứu. Giảng viên có thể giới thiệu các kênh tham khảo cho sinh viên.

               Sinh viên nên báo cáo tiến độ làm việc thường xuyên cho giảng viên bằng cách gửi sản phẩm nghiên cứu của mình thành nhiều đợt để giảng viên kịp thời sửa chữa, góp ý.

               Sinh viên nên trung thực, thẳng thắn trao đổi với giảng viên những khó khăn khi thực hiện đề tài, những vấn đề còn mơ hồ hoặc những điều bản thân thấy chưa phù hợp. Có như vậy, sinh viên mới hiểu sâu được đề tài và giảng viên mới hỗ trợ kịp thời cho sinh viên.

               Sau khi hoàn thành tất cả các bước trên, sinh viên mới bắt tay vào viết khóa luận. Quá trình viết khóa luận, sinh viên vẫn phải kết hợp tìm tài liệu, chỉnh sửa đề cương và trao đổi với giảng viên. Khóa luận được hoàn thành khi đảm bảo hoàn chỉnh về nội dung và đúng về hình thức. Khi đó, sinh viên kiểm tra lần cuối trước khi in và nộp.

                 Trên đây là một số định hướng cơ bản giúp các bạn sinh viên đang làm khóa luận (đặc biệt là các bạn chưa từng thực hiện bài tập nghiên cứu nào) có những hình dung cụ thể về những công việc, những nhiệm vụ mà mình sẽ phải làm để có một sản phẩm nghiên cứu hoàn thiện và chuẩn mực, xứng đáng là điểm mốc đánh dấu chặng đường học tập của bản thân.

Chúc các bạn hoàn thành tốt khóa luận của mình!

 

Hàng năm, sau những ngày nghỉ Tết Nguyên đán, sinh viên năm thứ ba, trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh lại nô nức bước vào đợt thực tập tại các trường phổ thông. Đây là giai đoạn học tập vô cùng quan trọng cho việc vận dụng những kiến thức lý thuyết tiếp thu được trên giảng đường sư phạm vào thực tế giảng dạy ở phổ thong. Trong bài viết này, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn sinh viên một số vấn đề về thực tập sư phạm (TTSP), nhằm giúp các em đạt kết quả tốt hơn trong đợt thực tập tới.

1. Yêu cầu về tinh thần và thái độ đối với TTSP

Muốn TTSP đạt kết quả cao và thực sự tiến bộ sau TTSP, sinh viên phải tiến hành quá trình thực tập với ý thức thực sự nghiêm túc, trách nhiệm. Các em cần nghiêm túc trước học sinh, nghiêm túc đối với tập thể sư phạm ở trường phổ thông và nghiêm túc với chính bản thân mình. Các em cần nêu cao trách nhiệm của thầy giáo về bài giảng, về lời nói, về hành vi ứng xử.

TTSP là lúc tập làm thầy, do đó sinh viên phải luôn giữ một thái độ cầu tiến, khiêm tốn học tập và chân thành rút kinh nghiệm để tiến bộ. Quá trình TTSP cũng là một quá trình học tập: học ở thầy cô giáo hướng dẫn, học qua thực tiễn phổ thông, học qua bạn bè trong đoàn thực tập, học ngay cả ở HS phổ thông.

2. Sinh viên cần chuẩn bị những gì cho TTSP

Trước tiên, các em cần chuẩn bị cho đời sống, sinh hoạt của bản thân mình. Việc chuẩn bị này phụ thuộc vào địa bàn thực tập (thành thị hay nông thôn, gần hay xa), vào thói quen và nhu cầu cuộc sống của từng người. Nhưng những thứ cần thiết như: tiền và các giấy tờ tuỳ thân, quần áo, giày dép, phương tiện đi lại, cặp, túi xách, các loại thuốc thông thường…là không thể thiếu. Các em nên chuẩn bị trang phục và tư trang nghiêm túc, chuẩn bị như giáo viên lên lớp, không quá lòe loẹt diêm dúa, không đeo đồ trang sức quá cầu kì, khoe khoang, tự biết bảo vệ tài sản cá nhân, tránh làm phiền cơ sở thực tập và địa phương vì bản thân bất cẩn.

Để chuẩn bị cho thực tập giảng dạy, các em cần chuẩn bị bài cho việc lên lớp bằng cách phải tìm hiểu phần kiến thức mà mình sẽ dạy hoặc dự giờ trong thời gian thực tập ở trường phổ thông (qua giáo viên bộ môn PPGD của khoa, qua các giáo viên và học sinh ở trường phổ thông, đọc SGK, tài liệu tham khảo về những nội dung sẽ thực tập…). Sau đó các em cần tập soạn giáo án chi tiết, tập giảng một mình hay nhóm, tập viết bảng, tập sử dụng các phương tiện trực quan…Thực tế cho thấy nhiều SV gặp lúng túng khi lên lớp, “ăn không nên đọi, nói không nên lời”, viết bảng xiêu vẹo, trình bày lộn xộn, thiếu khoa học…do không được tập dượt kĩ lưỡng trước khi lên lớp. Các em cũng cần học soạn các giáo án điện tử, vì ngày càng có nhiều trường phổ thông yêu cầu giáo sinh phải có những tiết dạy bằng giáo án điện tử.

Để chuẩn bị cho thực tập chủ nhiệm, các em đọc lại sách vở, tài liệu Tâm lý học, Giáo dục học và các tài liệu kiến thức khác liên quan đến công tác chủ nhiệm (cách lập kế hoạch chủ nhiệm, cách xử lý tình huống…). Chuẩn bị “sổ thực tập sư phạm”, sổ ghi chép, giấy, bút… Chuẩn bị một số bài hát, tiết mục văn nghệ, những tài liệu hướng dẫn trò chơi…

Ngoài ra các em cần đọc và nắm vững các văn bản hướng dẫn TTSP của trường CĐSP. Các văn bản này đã được phổ biến trước khi các em đi TTSP, cần ghi chép lại những nội dung có liên quan đến công việc, nhiệm vụ của mình.

3. Đến trường phổ thông bạn phải chú ý những vấn đề gì ? 

Trước tiên, các em cần chú ý tới quan hệ giao tiếp ở trường phổ thông. Các em cần kính trọng, khiêm tốn, cầu tiến, tế nhị, mạnh dạn; tránh sợ hãi, rụt rè, tự ti hoặc phô trương kiến thức; không được bàn tán về những khuyết điểm trong bài giảng của GV ở chỗ đông người…Đối với HS, các em cần mạnh dạn ngay buổi tiếp xúc đầu tiên, vui vẻ, dễ gần, nhưng nghiêm khắc, chân thật và bình đẳng, bình tĩnh, tự chủ, tế nhị…. Đối với bạn cùng đoàn thực tập, các em cần thật sự cộng tác, tương trợ lẫn nhau, khiêm tốn học hỏi; tránh đố kị, cô lập bạn mình và cô lập mình, tự cao, bè phái, mất đoàn kết làm ảnh hưởng đế uy tín SV trường CĐSP. Cần xây dựng kế hoạch làm việc với trường thực tập, trưởng đoàn ra nội quy thống nhất mọi hoạt động trong đoàn mỗi ngày, thiểu số theo đa số, có vướng mắc cần xin ý kiến giảng viên chỉ đạo, không kể xấu bạn mình với cơ sở thực tập, các thành viên phải báo cáo với trưởng, phó đoàn… Đối với cán bộ và nhân viên trong trường phổ thông, với nhân dân địa phương nơi đến thực tập cần thân mật, chúng ta cần cởi mở, chân thành, buồn vui chia sẻ, ứng xử có văn hóa…

Những việc phải làm trong thực tập giảng dạy bao gồm: Tìm hiểu nề nếp dạy và học, kinh nghiệm truyền thống, khó khăn, thuận lợi, những yêu cầu và mục tiêu phấn đấu của trường, lớp thực tập; nhận nhiệm vụ thực tập giảng dạy và lập kế hoạch giảng dạy; dự giờ và rút kinh nghiệm; chuẩn bị bài giảng cụ thể (soạn giáo án, thông qua GVHD, tập giảng, chỉnh sửa ); tiến hành bài giảng trên lớp; nhận xét, đánh giá kết quả giờ giảng.

Những việc phải làm trong thực tập chủ nhiệm lớp gồm: tìm hiểu HS và lớp chủ nhiệm, nắm chắc những công việc cơ bản của lớp trong thời gian thực tập; xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm (tháng, tuần); tổ chức thực hiện kế hoạch đã vạch ra; đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm từng tuần.

Trên đây là một số vấn đề rất cơ bản của TTSP mà các em cần biết. Tuy nhiên, TTSP là một đợt “tổng dượt” tất cả những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà các bạn được chuẩn bị trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm. Các em cần tự tin vào chính mình, biết vượt qua mọi khó khăn, tích cực học hỏi và trên hết là phải thực sự say mê, yêu nghề.

Chúc các em thành công trong đợt TTSP sắp tới!

               Hiện nay, các giáo trình về Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học cũng có đề cập đến các kỹ năng dạy học tiếng Việt nhưng chưa cụ thể và hệ thống, giảng viên có nhiều thời gian trong việc tổ chức các hoạt động thực hành rèn luyện các kỹ năng dạy học Tiếng Việt cho sinh viên (SV). SV chưa chủ động xác định các kỹ năng dạy học tiếng Việt cần thiết, chưa chủ động thực hiện các hoạt động tự rèn luỵên “tay nghề” dạy học tiếng Việt của mình.

            Để dạy tốt được phân môn Tiếng Việt ở tiểu học, sinh viên cần có các kỹ năng (KN) sau: kỹ năng phân tích mục tiêu, tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu dạy học, kỹ năng tìm hiểu trình độ và đặc điểm ngôn ngữ của học sinh (HS), kỹ năng lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy Tiếng Việt, kỹ năng tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ Tiếng Việt, kỹ năng kiểm tra, đánh giá HS, kỹ năng tổ chức hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt và bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS yếu kém, kỹ năng vận dụng công tác chủ nhiệm, công tác Đội hỗ trợ cho việc dạy Tiếng Việt và kết hợp dạy tiếng Việt trên các giờ học khác, kỹ năng phân tích, đánh giá thực tế dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. Bên cạnh đó, khi rèn luyện kỹ năng dạy học môn Tiếng Việt cho sinh viên ngành Tiểu học, cần chú trọng các kỹ năng cơ sở và cơ bản sau: Nhóm kỹ năng cơ sở bao gồm các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong dạy học: đọc, viết, nói, nghe. Nhóm kỹ năng cơ bản bao gồm các kỹ năng: tìm hiểu trình độ và đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học; phân tích chương trình, sách giáo khoa (SGK) môn Tiếng Việt; lập kế hoạch dạy học và thiết kế bài dạy Tiếng Việt; tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ Tiếng Việt; kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt của HS; phát hiện và  bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt; phụ đạo HS yếu về tiếng Việt, tổ chức hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Tiếng Việt...

            Với mục tiêu hình thành cho SV hệ thống kỹ năng dạy học Tiếng Việt đã xác định ở trên; căn cứ vào chương trình đào tạo ngành Sư phạm Giáo dục tiểu học theo học chế tín chỉ, chúng tôi thiết kế 5 nội dung cơ bản và quy trình để rèn luyện KN dạy học Tiếng Việt.

1. Rèn luyện nâng cao các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt trong dạy học

Trong quá trình cho sinh viện thực hành, giảng viên chú trọng rèn luyện các kỹ năng: Nội dung rèn luyện kỹ năng nói, bao gồm hội thoại, đơn thoại và kể chuyện. Mỗi kỹ năng này bao gồm một tổ hợp các nội dung cụ thể. Về kỹ năng hội thoại, sinh viên được rèn luyện KN mở đầu cuộc thoại, KN dẫn dắt cuộc thoại đi đúng hướng, KN sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ để hỗ trợ cho lời nói. Kỹ năng đơn thoại bao gồm tổ hợp các kỹ năng phát âm chuẩn, KN chuẩn bị nội dung, KN lập đề cương bài nói, KN trình bày bài nói mạch lạc, truyền cảm. Kỹ năng kể chuyện bao gồm KN thâm nhập, nắm vững câu chuyện, KN kể, KN sử dụng các phương tiện trực quan, các yếu tố phi ngôn ngữ phù trợ cho lời kể.

Nội dung rèn luyện KN viết bao gồm KN viết chữ cái và chữ số, KN liên kết chữ cái, dấu phụ, dấu thanh, viết liền mạch, KN thể hiện bài viết trên giấy, trên bảng và cách trình bày bảng, giáo án phù hợp với từng kiểu bài học.

Nội dung rèn luyện kỹ năng nghe, bao gồm KN phát hiện vấn đề chính trong bài nói, KN ghi nhanh, đúng và đầy đủ khi nghe, KN duy trì sự chú ý liên tục khi nghe.

Nội dung rèn luyện KN đọc bao gồm KN phát âm chuẩn, làm chủ cường độ, tốc độ, KN đọc hay, phù hợp với phong cách văn bản.

2. Rèn luyện các kỹ năng tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của HS Tiểu học, tổ chức các hoạt động ngoại khoá, trò chơi Tiếng Việt.

Đây là những kỹ năng mang tính chất cơ bản, liên quan đến quá trình dạy học môn Tiếng Việt nói chung. Nội dung rèn luyện KN tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học bao gồm: KN tìm hiểu đặc điểm về lời nói của HS, KN tìm hiểu kiến thức về ngôn ngữ của HS.

Nội dung rèn luyện KN tổ chức hoạt động ngoại khoá Tiếng Việt bao gồm: KN thiết kế, sưu tầm và tổ chức các trò chơi học tập Tiếng Việt, KN tổ chức buổi sinh hoạt về Tiếng Việt, KN sưu tầm tư liệu và thiết kế góc học tiếng Việt, Báo tường…, KN tập hợp thành viên và thành lập các nhóm sinh hoạt về Tiếng Việt, KN phát động và tổ chức các cuộc thi về Tiếng Việt.

3. Rèn luyện các kỹ năng phân tích chương trình Tiếng Việt tiểu học, thiết kế giáo án, tổ chức giờ học Tiếng Việt , kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Tiếng Việt của HS

Nội dung rèn luyện kỹ năng phân tích chương trình môn Tiếng Việt bao gồm: KN phân tích, giải thích mục tiêu môn học Tiếng Việt, KN phân tích cấu trúc nội dung (các mạch kiến thức, kỹ năng) của chương trình tổng thể, KN phân tích mục tiêu, nội dung từng phân môn, KN phân tích bài học của SGK.

Nội dung rèn luyện kỹ năng thiết kế giáo án Tiếng Việt bao gồm: KN xác định mục tiêu bài học Tiếng Việt, KN xác định nội dung và đơn vị kiến thức của bài học Tiếng Việt, KN lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và các phương tiện dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung và đặc trưng kiểu bài, phân môn, KN thiết kế các hoạt động dạy học Tiếng Việt, KN thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập, tình huống giao tiếp cho bài học Tiếng Việt, KN trình bày giáo án Tiếng Việt và chuẩn bị các đồ dùng dạy học.

Nội dung rèn luyện KN tổ chức các hoạt động dạy học trên giờ Tiếng Việt bao gồm: KN mở đầu bài học, KN tổ chức, điều khiển các hoạt động học tập Tiếng Việt của HS, KN giao tiếp với HS, đưa thông tin và nhận thông tin phản hồi, KN xử lý các tình huống dạy học Tiếng Việt, KN sử dụng các phương tiện dạy học Tiếng Việt, KN tổng kết và củng cố bài học tiếng Việt.

Nội dung rèn luyện KN kiểm tra, đánh giá kết quả học tập tiếng Việt của HS bao gồm: rèn luyện KN thiết kế mẫu quan sát để đánh giá các kĩ năng đọc thành tiếng, nói, nghe; KN thiết kế đề kiểm tra viết để đánh giá kỹ năng đọc hiểu, viết chữ, chính tả, tập làm văn, luyện từ và câu; KN thiết kế bộ câu hỏi kiểm tra thái độ của HS đối với môn Tiếng Việt.

4. Rèn luyện kỹ năng ứng dụng CNTT trong dạy học Tiếng Việt, kỹ năng bồi dưỡng HS giỏi Tiếng Việt, kỹ năng nghiên cứu về PPDH tiếng Việt

Nội dung rèn luyện KN ứng dụng CNTT trong dạy học bao gồm: KN thiết kế thiết kế bài giảng Tiếng Việt có sử dụng CNTT, KN thực hiện các tiết dạy có sử dụng CNTT, KN sử dụng một số phần mềm, KN tìm kiếm tư liệu, hình ảnh sử dụng trong dạy học Tiếng Việt.

Nội dung rèn luyện KN bồi dưỡng HS giỏi Tiếng Việt bao gồm: KN phát hiện HS có năng khiếu trong môn học Tiếng Việt, KN bồi dưỡng hứng thú học tập Tiếng Việt cho HS, KN bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho HS, KN bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học và làm văn cho HS.

 Nội dung rèn luyện KN nghiên cứu về phương pháp dạy học tiếng Việt bao gồm: KN lựa chọn đề tài, KN lập đề cương nghiên cứu, KN nghiên cứu lí luận, KN nghiên cứu thực tiễn, KN trình bày kết quả nghiên cứu.

5. Rèn luyện nâng cao và đánh giá tổng hợp kết quả rèn luyện tổng hợp các kỹ năng dạy học Tiếng Việt

 Bao gồm tất cả các kỹ năng phân tích chương trình, bài học của SGK Tiếng Việt; thiết kế giáo án Tiếng Việt, tổ chức hoạt động dạy và học trong giờ tiếng Việt, thiết kế đề bài và đánh giá kiến thức, KN Tiếng Việt của HS; bồi dưỡng HS giỏi Tiếng Việt; tổ chức hoạt động ngoại khóa Tiếng Việt; sử dụng Tiếng Việt đọc, viết, nghe, nói, kỹ năng ứng dụng CNTT trong dạy học Tiếng Việt, nghiên cứu các đề tài về PPDDH Tiếng Việt.

            Phân môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học là một trong các môn chính. Vì vậy, sinh viên cần được trang bị các kỹ năng dạy học phân môn Tiếng việt một cách cụ thể, chi tiết và nhuần nhuyễn. Để làm được điều đó, sinh viên cần có ý thức tự trau dồi kiến thức và kỹ năng cho chính mình. Sinh viên có thể tự lập thành những nhóm để tự tiến hành tập giảng , rút kinh nghiệm cá nhân, xuống các trường tiểu học để dự giờ, học hỏi, hỏi ý kiến đóng góp của giảng viên phụ trách môn học,… Khi các kỹ năng vững vàng các em sẽ tự tin đứng trên bục giảng.

Tài liệu tham khảo

1. Lê A, Chữ viết và dạy Chữ viết ở Tiểu học, NXB Đại học SP, 2007

2. Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I, NXB ĐHSP, 2009

3. Lê Phương Nga, Lê A, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II, NXB ĐHSP, NXB Giáo dục, 2009

4. Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB ĐHSP, NXB Giáo dục, 2007

5. Chuẩn trình độ môn Tiếng Việt và Hướng dẫn thực hiện Chuẩn trình độ môn Tiếng Việt ở tiểu học.

HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Ở KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

                                                                                                   Thạc sĩ: Phan Thị Hiền

          Trong những năm qua, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường được xác định là đổi mới phương pháp, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên. Điều đó, giúp nhà trường khẳng định được ví trí của mình trong sự nghiệp giáo dục của tỉnh, đặc biệt là niềm tin, sự kỳ vọng của lãnh đạo Đảng, Chính quyền các cấp và của các thế hệ phụ huynh, học sinh, sinh viên.

           Xác định hoạt động chuyên môn là nhiệm vụ trọng tâm, nên ngay từ đầu năm học các tổ chuyên môn và khoa GD TH-MN đã lập kế hoạch cụ thể nhiệm vụ năm học, động viên giảng viên trong khoa đăng kí các danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, Giáo viên giỏi cấp trường; Tích cực viết và áp dụng các đề tài nghiên cứu khoa học, đề tài đổi mới sáng tạo trong dạy và học; Không ngừng đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học…

          Để thực hiện có hiệu quả, lãnh đạo khoa và các giảng viên trong khoa đã không ngừng phấn đấu, chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục thông qua đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ. Xây dựng kế hoạch, các quy định và quy trình quản lý, chỉ đạo hoạt động chuyên môn trong khoa, trong tổ chuyên môn một cách khoa học, hợp lý với điều kiện thực tiễn của khoa. Các nội dung, kế hoạch hoạt động chuyên môn của khoa đề ra luôn nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến xây dựng của giảng viên. Lãnh đạo khoa luôn tạo điều kiện cho các giảng viên trong khoa tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt chú trọng công tác đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, phát huy tính chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh sinh viên, phù hợp với đặc thù của từng bộ môn.

          Các hoạt động thi giáo viên giỏi, hoạt động nghiên cứu khoa học, phong trào “Đổi mới, sáng tạo trong dạy học”, các buổi Hội thảo với nội dunng thiết thực để bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ,... được giảng viên toàn khoa nhiệt tình hưởng ứng. Năm học 2017 – 2018, toàn khoa đã có: 08 giảng viên tham gia thi GVG cấp trường với tổng số 16 giờ, 21 đề tài  “Đổi mới, sáng tạo trong dạy học” của cá nhân và nhóm chuyên môn, 09 đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường và 15 giảng viên có bài viết được đăng trên Tạp chí Giáo dục số ra tháng 10/2017... Vì vậy, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Công tác giáo dục toàn diện, bồi dưỡng nâng cao kiến thức kỹ năng nghiệp vụ cho học sinh sinh viên cũng được khoa chú trọng và bồi dưỡng thường xuyên ngay từ đầu năm học.

          Đổi mới trong sinh hoạt tổ chuyên môn cũng là nội dung mà lãnh đạo và giảng viên khoa GD TH-MN rất chú trọng. Từ đầu năm học, các tổ chuyên môn đã phân công lao động hợp lý trên tinh thần dân chủ, tôn trọng ý kiến của giảng viên sao cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, năng lực của cá nhân và tập thể. Trong các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn, nội dung sinh hoạt tập trung vào việc trao đổi chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp dạy học, góp ý giờ dạy, ứng dụng công nghệ thông tin... Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá gắn liền với đổi mới phương pháp giảng dạy học. Đổi mới cách ra đề kiểm tra trên cơ sở phải đảm bảo yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng, hướng dẫn chấm mang tính khoa học, tạo được kết quả kiểm tra đánh giá chính xác, sát với yêu cầu và đối tượng người học…Do đó, có tác dụng điều chỉnh kịp thời quá trình giảng dạy của giảng viên và quá trình học tập của học sinh, sinh viên. Lãnh đạo khoa, trưởng môn, phó môn luôn đi đầu trong công tác đổi mới phương pháp dạy học, dự giờ thăm lớp…Thông qua hoạt động này giảng viên được trao đổi, góp ý, học tập kinh nghiệm.

         Ngoài ra, các hoạt động ngoại khóa chuyên môn, hội nghị trao đổi phương pháp học tập được các tổ chuyên môn chỉ đạo tổ chức hiệu quả. Học sinh, sinh viên trực tiếp tham gia trao đổi, hợp tác dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Qua đó, các em có điều kiện cập nhật kiến thức và tự điều chỉnh phương pháp học tập phù hợp với đổi mới phương pháp dạy học.

         Có thể nói, trong những năm qua, những cố gắng nỗ lực vươn lên của tập thể khoa GD TH-MN trong hoạt động chuyên môn được ghi nhận và đánh giá cao. Năm học 2016 – 2017, khoa được nhận Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 05 giảng viên được nhận Giấy khen của Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh về phong trào “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”. Với hy vọng và quyết tâm cao chúng tôi tin tưởng rằng tập thể khoa GD TH-MN sẽ luôn đoàn kết, gắn bó và quyết tâm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ của Nhà trường giao cho.

Page 1 of 2

Thống kê truy cập

4044193
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tháng này
10334
9240
46472
73832

Forecast Today
3000


Your IP:54.82.57.154

barbour kurtki peuterey kurtki barbour polska canada goose kurtka ugg buty ugg polska canada goose jakke belstaff danmark canada goose tilbud parajumpers dame belstaff jacket canada goose danmark canada goose jakke dame barbour jakke woolrich jakke canada goose b?rn jintropin preis somatropin kaufen hgh kaufen hygetropin kaufen jintropin kaufen jintropin hygetropin bestellen kamagra jelly australia kamagra australia
Go to top
moncler takki barbour takki canada goose takki canada goose ale woolrich takki parajumpers takki canada goose suomi belstaff takki ugg ale parajumpers gobi parajumpers homme doudoune parajumpers homme peuterey prix doudoune duvetica ugg bebe duvetica doudoune parajumpers outlet barbour pas cher doudoune peuterey belstaff pas cher duvetica femme doudoune duvetica femme