Khoa LLCT

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

   Thuyết trình vốn là phương pháp dạy học truyền thống được sử dụng lâu đời trong quá trình dạy học. Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm, giúp người dạy chủ động trong hoạt động dạy học nhằm đạt mục tiêu chủ yếu là truyền thụ tri thức một cách có hệ thống. Bên cạnh đó, phương pháp dạy học này cũng có nhược điểm, chưa phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học. Trước những yêu cầu đổi mới hiện nay, để dạy học không chỉ nhằm truyền thụ kiến thức mà còn hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển năng lực cho người học thì việc sử dụng phương pháp thuyết trình (PPTT) như thế nào cho hiệu quả là điều đáng được quan tâm.

   Môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (NNLCBCCNMLN) có vai trò quan trọng đối với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Với lượng kiến thức chứa đựng tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao, nên môn học này rất cần đến việc sử dụng PPTT để truyền tải nội dung tri thức đến người học. Trong giời hạn bài viết này, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số lưu ý khi sử dụng PPTT trong dạy học môn NNLCBCCNMLN nhằm đem lại hiệu quả cao hơn trong quá trình giảng dạy môn học này.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Phương pháp thuyết trình và những ưu, nhược điểm của nó

   Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học bằng lời nói sinh động của giảng viên để trình bày một tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà sinh viên đã thu lượm được một cách có hệ thống.

   Phương pháp thuyết trình thể hiện dưới hình thức giảng giải, giảng thuật và diễn giảng phổ thông.

   Phương pháp thuyết trình có những ưu điểm sau:

- Cho phép giảng viên truyền đạt những nội dung lý thuyết tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà sinh viên tự mình không dễ dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc.

- Giúp sinh viên nắm được hình mẫu về cách tư duy logic, cách đặt và giải quyết vấn đề khoa học, cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những vấn đề khoa học một cách chính xác, rõ ràng, súc tích thông qua cách trình bày của giảng viên.

- Tạo điều kiện thuận lợi để giảng viên tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của viên qua việc trình bày tài liệu với giọng nói, cử chỉ, điệu bộ thích hợp và diễn cảm.
- Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý và kích thích tính tích cực tư duy của sinh viên, vì có như vậy sinh viên mới hiểu được lời giảng của giảng viên và mới ghi nhớ được bài học.

- Bằng phương pháp thuyết trình, giảng viên có thể truyền đạt một khối lượng tri thức khá lớn cho nhiều sinh viên cùng một lúc, vì vậy đảm bảo tính kinh tế cao.

   Tuy nhiên, phương pháp thuyết trình còn có những hạn chế, nếu sử dụng không đúng:

- Làm cho sinh viên thụ động, chỉ sử dụng chủ yếu thính giác cùng với tư duy tái hiện, do đó làm cho họ chóng mệt mỏi.

- Thiếu điều kiện cho phép giảng viên chú ý đầy đủ đến trình độ nhận thức cũng như kiểm tra đầy đủ sự lĩnh hội tri thức của từng sinh viên.

2. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp thuyết trình trong dạy học môn NNLCBCCNMLN

   Thứ nhất, không nên sử dụng PPTT liên tục trong một thời gian dài mà cần kết hợp linh hoạt PPTT với các phương pháp dạy học (PPDH) khác: Môn NNLCBCCNMLN là môn học mang tính lí luận cao. Vì vậy, trong mỗi bài giảng, GV cần thực hiện tốt yêu cầu này. Nếu người dạy chỉ sử dụng PPTT trong việc luận giải nội dung kiến thức sẽ rất dễ rơi vào "giáo điều”, “truyền thụ một chiều"; dẫn đến tình trạng thụ động, lười động não, suy nghĩ khi tiếp thu kiến thức ở người học. Để khắc phục hiện tượng này, GV cần sử dụng các câu hỏi nêu vấn đề, đưa ra các tình huống có vấn đề,... để SV thảo luận, kích thích khả năng tư duy ở người học. Khi truyền tải kiến thức tới người học, GV cần xác định rõ mỗi nội dung trong bài học nên sử dụng PPDH nào cho phù hợp nhất cũng như có sự kết hợp nhuẩn nhuyễn giữa các PPDH để tạo sự say mê, hứng thú, tham gia phát biểu xây dựng bải ở SV.

Ví dụ: Khi giảng dạy phần "Bản chất của ý thức”, GV nên kết hợp PPTT với phương pháp nêu vấn đề. Bên cạnh việc giải thích nội dung cơ bản của ý thức, GV có thể đưa ra câu hỏi tình huống như: “Khi nói cái đẹp không phải ở đôi má hồng người thiếu nữ mà nằm trong con mắt của kẻ si tình”, Kant đã đề cao tính chất nào của ý thức?”

   Thứ hai, trình bày bài giảng theo hệ thống logic, khoa học: Môn NNLCBCCNMLN gồm 3 phần, 9 chương, được sắp xếp theo trình tự nhất định.

Khi giảng dạy, GV cần tuân thủ theo đúng trình tự đã được sắp xếp; thường xuyên sử dụng các câu hỏi như: “Chương này có mấy phần lớn?”, “Mỗi phần có những nội dung cơ bản nào?”,... để giúp SV chủ động khái quát những nội dung cơ bản của bài. Đồng thời ở mỗi phần trong nội dung môn học, GV có thể sử dụng sơ đồ tư duy nhằm trình bày hệ thống bài giảng một cách chỉ tiết và kết hợp các nội dung kiến thức rõ ràng hơn qua đó giúp SV có sự hình dung nhanh nhất về nội dung kiến thức bài học.

Ví dụ: Khi dạy nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, giảng viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy sau để truyền đạt nội dung kiến thức cho sinh viên

   Thứ ba, sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, chính xác, cuốn hút, truyền cảm. Bên cạnh ngôn ngữ nói cần kết hợp thêm ngôn ngữ hình thể: Khi giảng dạy môn học, GV cần sử dụng ngôn ngữ chính xác, đúng ngữ pháp; phát âm chuẩn mực, không nói ngọng, nói lắp, tránh lặp đi lặp lại một từ nhiều lần, trình bày ngắn gọn, súc tích, đủ lượng thông tin cần thiết; trích dẫn chính xác, hợp lý. Lời giảng của GV cần có sức truyền cảm, ngữ điệu phù hợp với không gian của lớp học, lúc lên cao, lúc xuống thấp, lúc nhanh, lúc chậm với những “điểm nhấn”,. .Sẽ rất khó thành công trong truyền thụ kiến thức nếu người dạy sử dụng ngữ điệu đều đều, khiến người học cảm thấy mệt mỏi, chán nản trong tiếp thu nội dung bài học.

Khi giảng dạy, GV cần kết hợp nhịp nhàng giữa lời giảng và tác phong của bản thân. Đây cũng là những yếu tố có tác động mạnh mẽ đến tình cảm và sự ham muốn học tập của SV đối với môn học. Từng câu nói, mỗi lời giảng cần có những hành động tương ứng, phù hợp. GV cần có thái độ tự tin, niềm nở; trang phục gọn gàng, giản dị, “mô phạm”.. .để có thể rút ngắn khoảng cách, tạo mối liên hệ gần gũi, gắn bó giữa thầy và trò, qua đó giúp SV mạnh dạn, chủ động, tích cực hơn trong việc lĩnh hội tri thức...

   Thứ tư, vận dụng tri thức liên môn trong giảng dạy môn học: Việc vận dụng tri thức liên môn trong giảng dạy môn NNLCBCCNMLN là một trong những yếu tố giúp cho bài giảng của GV trở nên “sinh động" hơn, có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình dạy và học. Điều này đòi hỏi GV cần thường xuyên nâng cao trình độ tri thức không những trong môn học được phân công giảng dạy mà cả từ các môn khoa học khác; thường xuyên cập nhật các thông tin về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, đời sống... Có như vậy, tiết học mới trở nên thực sự hấp dẫn, cuốn hút sự tập trung lĩnh hội tri thức của SV, qua đó đưa hệ thống lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin gắn liền với thực tiễn, có tính giáo dục cao.

III. Kết luận

Có thể nói, không có một phương pháp dạy học nào là “vạn năng". Đặc biệt NNLCBCCNMLN lại là môn học thuộc khoa học lí luận chính trị có nội dung phong phú, đa dạng, được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực; chứa đựng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật có tính khái quát và trừu tượng hóa cao. Vì vậy, việc truyền tải những nội dung mang tính “hàn lâm” cao tới sinh viên là một nhiệm vụ rất khó đối với giảng viên bộ môn. Việc đổi mới phương pháp dạy học các môn lý luận chính trị nói chung, môn NNLCBCCNMLN nói riêng những năm gần đây đã được chú trọng đáng kể. Mặc dù thuyết trình là một phương pháp dạy học truyền thống, song chúng ta không thể phủ nhận hiệu quả của phương pháp này nếu GV biết kết hợp linh hoạt với các phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại. Do đó, theo tôi, để thực hiện được mục tiêu giúp SV hiểu rõ hơn nội dung bài giảng, có thể vận dụng nội dung kiến thức của môn học trong việc ứng dụng các khoa học chuyên ngành và trong cuộc sống, GV cần lưu ý một số yêu cầu như đã trình bày ở trên trong quá trình sử dựng phương pháp thuyết trình, có như vậy mới khắc phục kịp thời những hạn chế cũng như phát huy những thế mạnh vốn có của PPTT nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Vũ Đình Bảy, Nguyễn Xuân Khoát, Đặng Xuân Điều (2012), Hướng dẫn ôn tập môn “Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin”, NXB Chính trị Quốc gia.

2. Nguyễn Văn Cư (chủ biên)(2007), Phương pháp dạy học chủ nghĩa xã hội khoa học, NXB Đại học sư phạm.

3. Thái Duy Tuyên (2010), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục Việt Nam.

4. Bernd Meier (người dịch: Nguyễn Văn Cường) (2005), Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, NXB Giáo dục.

5. Robert J. Marano (người dịch: Nguyễn Hữu Châu) (2008), Nghệ thuật và khoa học dạy học, NXB Giáo dục.

Page 1 of 14

Thống kê truy cập

6314865
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tháng này
3048
3026
33379
108099

Forecast Today
2784


Your IP:54.236.246.85

Go to top
wso shell wso shell Indoxploit Shell wso shell hacklink hacklink satışı hacklink deface mirror hacklink wso shell
wso shell wso shell Indoxploit Shell wso shell hacklink hacklink satışı hacklink satış deface mirror hacklink wso shell