A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH, SINH VIÊN BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG KINH BẮC

Tác giả: Ths. Nguyễn Thị Hồng Nhung Đơn vị: Phòng  Đào tạo

  1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển của dân tộc, văn hóa luôn giữ vai trò nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững. Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc - đã sớm nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa và xây dựng một hệ thống tư tưởng toàn diện về văn hóa dân tộc. Người đặc biệt nhấn mạnh giá trị của văn hóa truyền thốngvà việc bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống dân tộc. Vùng văn hóa Kinh Bắc đã được hình thành từ lâu đời và phát triển rực rỡ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Văn hóa Kinh Bắc gồm nhiều nét đặc sắc như: Dân ca Quan họ, các làng nghề truyền thống, các lễ hội kéo dài suốt mùa xuân... Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống vùng Kinh Bắc có ý nghĩa cấp thiết và lâu dài.

  1. Nội dung

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa truyền thống của dân tộc

Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách do thiên tai, địch họa, nhất là các cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài. Truyền thống yêu nước, đoàn kết, bản lĩnh, cốt cách, phẩm giá dân tộc đã giúp chúng ta tồn tại vững vàng và phát triển mạnh mẽ. Quá trình đó cũng xây dựng, hun đúc, phát triển truyền thống văn hóa vẻ vang của dân tộc; bản sắc và sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam.

Khi xác định đặc trưng và bản sắc văn hóa Việt Nam, dù có những điểm nhìn khác nhau, thì nhiều người, nhiều giới đều dễ gặp nhau ở những điểm chung nhất. Đó là các phẩm chất yêu nước, thương nòi, đoàn kết, tôn kính tổ tiên, dũng cảm, tài trí, hiếu học, cần cù, ngay thẳng, tình nghĩa, hòa hiếu, khoan dung… Từ ngày có Đảng, nhất là từ khi đất nước ta thoát khỏi ách nô dịch của chế độ phong kiến, thực dân, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa, văn hóa Việt Nam cùng với các yếu tố đậm đà bản sắc dân tộc đã có, còn được bổ sung và phát triển thêm các phẩm chất mới mang tính tiên tiến. Tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trí, trình độ khoa học và công nghệ; tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; tiên tiến về sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, giữa hình thức và nội dung; giữa văn hiến dân tộc và chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa được hình thành từ sự kế thừa truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người được hình thành từ những năm 20 thế kỷ XX và tiếp tục được phát triển qua các giai đoạn cách mạng sau này. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” (Hồ Chí Minh, Toàn tậpSđd, t. 7, tr. 246). Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (năm 1951), Ngườiđã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hóa: “Phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” (Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 7, tr. 40). Đây là quan điểm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc có chọn lọc của Hồ Chí Minh.

Trước hết, Ngườinhấn mạnh tính dân tộc của văn hóa. Văn hóa phải phản ánh bản sắc riêng, cốt cách của dân tộc Việt Nam, gắn liền với lịch sử, phong tục, tập quán và lối sống của nhân dân. Theo Người, “văn hóa dân tộc là gốc”, phải giữ gìn và phát huy trong mọi hoàn cảnh.Phát huy, phát triển văn hóa dân tộc phải dựa trên cơ sở giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định quan điểm: gốc của văn hóa là dân tộc; không có cái gốc ấy thì không thể tiếp thu được tinh hoa của các nước mà cũng không đóng góp được gì cho văn hóa nhân loại. Người yêu cầu “phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc ... và học tập văn hóa tiên tiến của các nước” và Người cũng rất tâm đắc với quan điểm của V.I Lê-nin: Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại (Hồ Chí Minh, Toàn tậpSđd, t. 6, tr. 357). Người khuyên văn, nghệ sĩ phải chú ý giữ gìn vốn cũ dân tộc, đồng thời phê phán những ai là người Việt Nam nhưng không hiểu biết rõ về lịch sử, đất nước, con người Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc giữ gìn thuần phong mỹ tục vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Đối với vấn đề lễ hội ở các di tích, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ý kiến chỉ đạo có ý nghĩa phương pháp luận: “Nói là khôi phục vốn cũ, thì nên khôi phục cái gì tốt, cái gì không tốt thì loại dần ra ... Cái gì tốt, thì ta nên khôi phục và phát triển, còn cái xấu thì ta phải bỏ đi” (Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1998, tr. 161 - 162). Quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy thái độ khoa học, trân trọng tinh hoa thuần phong mỹ tục đối với lễ hội, không phục cổ mà nâng lên cho phù hợp nếp sống mới, văn hóa mới...

Cùng với những tư tưởng sâu sắc về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương mẫu mực về học tập, bảo tồn vốn cổ, bảo vệ văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Người rất trân trọng, gìn giữ và làm trong sáng tiếng nói dân tộc để nâng tầm văn hóa Việt Nam. Nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam (ngày 8-9-1962), Người nhấn mạnh: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp” (Hồ Chí Minh, Toàn tậpSđd, t. 13, tr. 465). Người cũng yêu cầu các nhà văn phải chú ý trân trọng và giúp đỡ những sáng tác của quần chúng, vì đó là những viên ngọc quý,...

Như vậy, phát triển nâng tầm văn hóa dân tộc Việt Nam lên ngang tầm thời đại là một tư tưởng vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc và cao rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với vai trò là người đứng đầu của một quốc gia - dân tộc; hơn thế, là đại diện về tư tưởng, trí tuệ, tinh thần, hồn cốt của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Những quan điểm, tư tưởng của Người về văn hóa, phát triển, nâng tầm văn hóa dân tộc không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, mà còn có giá trị sâu sắc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những tư tưởng ấy chính là cơ sở, nền tảng cho Đảng xây dựng đường lối phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay với các định hướng cơ bản như: xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại; xây dựng môi trường văn hóa thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện thụ hưởng văn hóa của nhân dân; bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam; gắn việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam với việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt Nam thành địa chỉ hấp dẫn về giao lưu văn hóa quốc tế; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, từng bước đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới… (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021 t. I, tr. 143 - 147).

Trong giai đạn bùng nổ thông tin như hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị ngày càng gia tăng các hoạt động chống phá tinh vi nhằm vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh. Một trong những trọng điểm tấn công là các vấn đề liên quan đến văn hóa truyền thống và giáo dục thế hệ trẻ về văn hóa. Những luận điệu sai trái này không chỉ nhằm hạ thấp uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn muốn làm lung lay ý thức hệ, niềm tin của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ vào con đường phát triển của đất nước. Họ xuyên tạc, phủ nhận giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa truyền thống. Họ phủ nhận sự kết hợp hài hòa giữa việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Họ cho rằng Hồ Chí Minh đã áp đặt một cách khiên cưỡng các quan điểm văn hóa mà không dựa trên nền tảng thực tiễn của Việt Nam. Một số luận điệu cho rằng Hồ Chí Minh chỉ "nhặt nhạnh" các tư tưởng từ phương Đông và phương Tây mà không có đóng góp mang tính đột phá. Chúng cố tình bỏ qua quá trình "gạn đục, khơi trong", "tiếp thu có chọn lọc" và "bổ sung những nội dung mới mang hơi thở thời đại" mà Hồ Chí Minh đã thực hiện. Việc này nhằm mục đích hạ thấp vai trò của Người như một nhà tư tưởng vĩ đại, người đã soi đường cho cách mạng nước ta. Các thế lực thù địch lợi dụng các hiện tượng tiêu cực trong xã hội hoặc những mặt trái của quá trình hội nhập để xuyên tạc rằng việc tiếp thu văn hóa phương Tây sẽ dẫn đến sự suy đồi đạo đức, đề cao chủ nghĩa cá nhân cực đoan, từ đó bôi nhọ giá trị truyền thống của dân tộc và phủ nhận vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc định hướng phát triển văn hóa… Trước thực trạng này, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đặc biệt là các quan điểm của Người về văn hóa truyền thống là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong giai đoạn phát triển, hội nhập sâu rộng hiện nay của quê hương, đất nước.

2.2. Giá trị văn hóa truyền thống vùng đất Kinh Bắc

          Vùng đất Kinh Bắc - tương ứng với khu vực tỉnh Bắc Ninh (cũ) và một phần Bắc Giang(cũ) - từ lâu đã được xem là cái nôi của văn hóa dân tộc Việt Nam. Với bề dày lịch sử hàng nghìn năm, Kinh Bắc không chỉ là trung tâm chính trị - kinh tế quan trọng trong quá khứ mà còn là nơi kết tinh nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, góp phần hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam. Việc nghiên cứu và nhận diện các giá trị này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh bảo tồn và phát huy di sản văn hóa hiện nay.Văn hóa truyền thống vùng Kinh Bắc vô cùng phong phú với nhiều loại hình từ dân ca Quan họ đến các lễ hội, làng nghề truyền thống… Mỗi loại hình đều có những nét đặc sắc, mang giá trị riêng.

Dân ca Quan họ- di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, thể hiện nét đẹp tinh tế trong giao tiếp, ứng xử và đời sống tinh thần của người dân. Bắc Ninh - Kinh Bắc là quê hương Quan họ, nhưng sinh hoạt văn hóa Quan họ chỉ tồn tại và phát triển ở một địa vực nhất định. Đó là 49 làng thuộc các xã/phường: Tiên Du (11 làng), Từ Sơn (2 làng), Yên Phong (17 làng) và Việt Yên (5 làng), với trung tâm các phường thuộc Thành phố Bắc Ninh cũ (gồm 14 làng) (Nhiều tác giả, 2020). Ở vùng đất Kinh Bắc,Quan họ là sản phẩm của văn hóa làng. Sinh hoạt văn hóa Quan họ vừa là hoạt động sinh hoạt cộng đồng vừa là hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc của các làng Quan họ cần được bảo tồn, gìn giữ trong nhịp sống hiện đại ngày nay.

Mỗi độ Xuân về, vùng Kinh Bắc lại rộn ràng trong không khí lễ hội, nơi hội tụ những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Không chỉ là sinh hoạt văn hóa cộng đồng, các lễ hội đầu năm tại Bắc Ninh còn trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong hành trình tìm về cội nguồn, trải nghiệm không gian du lịch văn hóa, tâm linh đặc sắc.Theo thống kê của ngành Văn hóa Bắc Ninh, mỗi năm, toàn tỉnh có hơn 1.300 lễ hội lớn nhỏ; trong đó trên 400 lễ hội diễn ra vào mùa Xuân. Các lễ hội không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân mà còn là dịp để cộng đồng gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng đất Kinh Bắc. Một số lễ hội đặc sắc của vùng Kinh Bắc: Hội Lim; Hội rước pháo Đồng kỵ; Lễ hội Thập đình (10 làng kết nghĩa); Lễ hội Đền Đô; Lễ hội Đền Bà Chúa kho…

          Bên cạnh các lễ hội kéo dài suốt mùa xuân, vùng văn hóa Kinh Bắc còn nổi tiếng bởi các làng nghề truyền thống như:làng gốm Phù Lãng, làng Tranhdân gian Đông Hồ (phường Thuận Thành), làng nghề mây tre đan Xuân Lai (xã Gia Bình), làng Gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (phường Từ Sơn); làng nghề gò, đúc đồng Đại Bái (xã Gia Bình)… thể hiện sự khéo léo và sáng tạo của người dân.

             Có thể thấy, vùng đất Kinh Bắc với Sông Cầu chảy giữa đôi bờ Quan họ, với dòng sông Thương uốn quanh đất Lạng Giang là mạch nguồn nâng đỡ cho đất và hồn người nơi đây.Kinh Bắc - một không gian vừa đồng bằng, vừa trung du - nơi mềm của nước và chắc của đất đỡ lấy nhau, nơi tĩnh của làng và động của chợ hòa vào nhau. Trên dải đất ấy, người Kinh Bắc đã sớm dựng làng, mở chợ, khai khẩn ruộng đồng, trồng dâu, nuôi tằm, đắp đê giữ lúa, đồng thời dựng trường dạy chữ, thắp đèn học hành, nuôi chí khoa bảng. Bởi vậy, Kinh Bắc luôn toát lên một khí chất riêng: Thông minh, trọng nghĩa tình, trọng đạo lý và biết trân quý cái đẹp…

          Tuy nhiên, trước tác động của kinh tế thị trường và hội nhập, nhiều giá trị văn hóa truyền thống Kinh Bắc đang đứng trước nguy cơ bị mai một, đặc biệt trong giới trẻ. Hơn thế, một số phần tử chống Đảng và các thế lực thù lực không ngừng bóp méo, tấn công vào công tác giáo dục văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ. Các luận điệu sai trái thường xuyên gieo rắc sự nghi ngờ rằng việc giáo dục văn hóa truyền thống chỉ là "công cụ tuyên truyền", "làm màu" hoặc "lạc hậu", không phù hợp với xu thế phát triển của thế giới hiện đại. Chúng cố tình tách rời giáo dục văn hóa với mục tiêu xây dựng con người mới, có đạo đức, lối sống văn hóa và lòng yêu nước. Các trang mạng, hội nhóm "chống phá" thường xuyên đăng tải các nội dung dung tục, bạo lực, đề cao chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, hoặc các trào lưu văn hóa độc hại, có khả năng làm lệch lạc nhận thức, lối sống của giới trẻ, dần dần bào mòn ý thức về văn hóa truyền thống và lý tưởng cách mạng. Vì vậy, giáo dục cho thế hệ trẻ, đặc biệt là các em học sinh, sinh viên có ý thức bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống vùng Kinh Bắc là việc làm thiết thực, vô cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

2.3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa truyền thống dân tộc trong giáo dục học sinh, sinh viên

2.3.1 Thực trạng nhận thức và ý thức bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống vùng đất Kinh Bắc

Để nắm được thực trạng nhận thức và ý thức bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống vùng đất Kinh Bắc, chúng tôi đã tiến hành khảo sát với 150 học sinh, sinh viên tại 03trường trung học phổ thông (THPT Thuận Thành số 1; THPT Tiên Du số 1; THPT Hoàng Quốc Việt) và Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh. Đối tượng khảo sát có độ tuổi từ 16 đến 22, đảm bảo tính đa dạng và đại diện tương đối. Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng kết quả khảo sát kết quả nhận và ý thức bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống Kinh Bắc(N = 150)

Nội dung khảo sát

Mức độ/Ý kiến

Tỷ lệ (%)

Số lượng (người)

Mức độ hiểu biết

Hiểu biết cơ bản

65%

98

Hiểu biết sâu sắc

25%

38

Hiểu biết hạn chế/mơ hồ

10%

15

Thái độ bảo tồn

Rất cần thiết

70%

105

Cần thiết

20%

30

Chưa quan tâm

10%

15

Mức độ tham gia

Thường xuyên

40%

60

Thỉnh thoảng

45%

68

Hầu như không tham gia

15%

22

Nhu cầu/đề xuất

Tăng trải nghiệm thực tế

60%

90

Đưa vào bài giảng sinh động

50%

75

Kết hợp công nghệ (video, mạng xã hội…)

45%

68

Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh, sinh viên đã có nhận thức tương đối tích cực về giá trị của văn hóa truyền thống, tuy nhiên mức độ hiểu biết sâu và sự tham gia thực tiễn vẫn còn hạn chế. Điều này phản ánh một khoảng cách nhất định giữa nhận thức và hành động, đồng thời đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp giáo dục hiệu quả hơn. Ta có biểu đồ:

 

 

Nhìn vào biểu đồ, có thể đưa ra nhận xét chung như sau:

Trước hết, xét trên phương diện lý luận, kết quả khảo sát phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa khi Người nhấn mạnh vai trò của quần chúng trong sáng tạo và bảo tồn văn hóa. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy học sinh, sinh viên - với tư cách là chủ thể văn hóa - chưa thực sự được phát huy đầy đủ vai trò của mình. Việc tiếp cận văn hóa còn mang tính thụ động, chủ yếu dừng lại ở nhận thức, chưa chuyển hóa mạnh mẽ thành hành vi cụ thể.

Thứ hai, sự hạn chế trong mức độ tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống cho thấy phương thức giáo dục hiện nay còn thiếu tính hấp dẫn và chưa gắn chặt với trải nghiệm thực tiễn. Điều này cũng tương đồng với nhận định của nhiều nghiên cứu trước đây rằng việc giáo dục văn hóa trong nhà trường còn nặng về lý thuyết, chưa chú trọng đúng mức đến hoạt động thực hành, trải nghiệm và sáng tạo.

Thứ ba, nhu cầu của học sinh, sinh viên về việc kết hợp công nghệ trong tiếp cận văn hóa là một xu hướng đáng chú ý. Đây là cơ hội để đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với đặc điểm của thế hệ trẻ. Tuy nhiên, nếu không có định hướng đúng đắn, việc tiếp cận văn hóa qua môi trường số cũng có thể dẫn đến sự “đơn giản hóa” hoặc “biến dạng” giá trị văn hóa truyền thống.

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò quan trọng của môi trường giáo dục và sự phối hợp giữa các lực lượng xã hội. Việc bảo tồn và phát triển văn hóa không thể chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà cần có sự tham gia của gia đình, cộng đồng và các tổ chức văn hóa địa phương. Điều này phù hợp với quan điểm của Hồ Chí Minh về việc xây dựng nền văn hóa mang tính toàn dân.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục văn hóa cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, kết hợp giữa nâng cao nhận thức, tăng cường trải nghiệm và đổi mới phương pháp tiếp cận. Đặc biệt, cần chú trọng phát huy vai trò chủ thể của học sinh, sinh viên, giúp họ không chỉ là người tiếp nhận mà còn là người sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống.

2.3.2. Biện pháp giáo dục học sinh, sinh viên bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống Kinh Bắc

Việc giáo dục học sinh, sinh viên bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống Kinh Bắc cần dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ thể:

2.3.2.1 Nâng cao nhận thức cho học sinh, sinh viên về giá trị của văn hóa truyền thống Kinh Bắc

Nâng cao nhận thức cho học sinh, sinh viên về văn hóa truyền thống Kinh Bắc sẽ giúp các em hiểu đúng, đầy đủ và có hệ thống về các giá trị văn hóa đặc sắc của vùng Kinh Bắc (dân ca Quan họ, lễ hội, phong tục tập quán, làng nghề truyền thống…). Từ đó hình thành thái độ trân trọng, tự hào và ý thức trách nhiệm trong việc gìn giữ, phát huy di sản văn hóa truyền thống địa phương, góp phần xây dựng bản lĩnh văn hóa, khả năng “miễn dịch” trước các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa và sự lai căng văn hóa. Đồng thời, tạo nền tảng để chuyển hóa nhận thức thành hành vi cụ thể trong học tập, sinh hoạt và tham gia các hoạt động văn hóa.

Việc nâng cao nhận thức cho học sinh, sinh viên về văn hóa truyền thống Kinh Bắc cần tập trung vào một số nội dung cốt lõi như:giá trị lịch sử - văn hóa của Kinh Bắc (vai trò của vùng đất Kinh Bắc trong tiến trình lịch sử dân tộc; những đóng góp về văn hóa, giáo dục, khoa bảng); giá trị di sản văn hóa phi vật thểặc biệt là dân ca Quan họ với các giá trị nghệ thuật, nhân văn và tính cộng đồng; ý nghĩa của các lễ hội truyền thống như hội Lim, hội làng); giá trị văn hóa vật thể và nghề truyền thống (các di tích lịch sử, đình chùa, làng nghề (gốm, tranh dân gian, mộc, đúc đồng…) gắn với đời sống kinh tế - xã hội. Cùng với việc nhận thức các giá trị cốt lõi trên, học sinh, sinh viên cũng cầ nâng cao nhận thức về thách thức và trách nhiệm bảo tồn (những nguy cơ mai một văn hóa trong bối cảnh hiện đại; vai trò của thế hệ trẻ trong bảo tồn và phát triển...).

Để có thể giúp học sinh, sinh viên hiểu sâu các giá trị văn hóa truyền thống địa phương và trách nhiệm của bản thân trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị ấy cần thực hiện đồng bộ nhiều cách thức như: Tích hợp nội dung văn hóa Kinh Bắc vào các môn học (Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân...) theo hướng liên môn; xây dựng các bài giảng, chuyên đề có tính địa phương hóa, gắn với thực tiễn đời sống; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học (thảo luận, dự án, nghiên cứu tình huống...). Bên cạnh đó, có thể thông qua cáchoạt động ngoại khóa và truyền thông giáo dục như: Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, tọa đàm về văn hóa Kinh Bắc với sự tham gia của nhà nghiên cứu, nghệ nhân; Phát động các cuộc thi tìm hiểu (viết, thuyết trình, sân khấu hóa) về di sản văn hóa vùng Kinh Bắc; Tuyên truyền qua bảng tin, website, mạng xã hội của nhà trường với nội dung hấp dẫn, phù hợp với giới trẻ... Những cách thức này sẽ giúp học sinh, sinh viên dễ dàng tiếp nhận và thôi thúc các em tìm hiểu sâu hơn các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương.

2.3.2.2 Tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tiễn để tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống, giúp việc “học đi đôi với hành”

Biện pháp nêu trên xuất phát từ quan điểm gắn lý luận với thực tiễn trong giáo dục nói chung và giáo dục văn hóa truyền thống nói riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mục đích của biện pháp nhằm giúp học sinh, sinh viên không chỉ hiểu rộng, hiểu sâu mà còn có hứng thú, trân quý và tự hào về văn hóa truyền thống Kinh Bắc, từ đó có ý thức bảo tồn, say mê sáng tạo, phát triển các giá trị của văn hóa truyền thống.

Các hoạt động trải nghiệm thực tiễn mà nhà trường có thể sử dụng để hỗ trợ giáo dục văn hóa truyền thống Kinh Bắc cho học sinh, cụ thể: Tổ chức tham quan di tích, làng nghề, lễ hội truyền thống; Tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên trực tiếp tham gia các hoạt động văn hóa (hát Quan họ, làm sản phẩm thủ công…); Tổ chức các cuộc thi, sân chơi cho các bạn trẻ ( thi hát Quan họ; thi vẽ tranh/porter; làm MV tuyên truyền về làng nghề, về Dân ca Quan họ, về một lễ hội truyền thống ở quê em...); Kết hợp hoạt động tình nguyện với bảo tồn văn hóa tại địa phương...

Đồng thời, các nhà trường cũng có thể khuyến khích các em tham gia sáng tạo, quảng bá văn hóa qua các hình thức hiện đại như truyền thông số, mạng xã hội, dự án học tập… Đây chính là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại theo tinh thần Hồ Chí Minh.

2.3.2.3 Phát huy vai trò của chủ thể văn hóa trong việc giáo dục văn hóa truyền thống Kinh Bắc

Biện pháp này nhằm kéo gần lại khoảng cách giữa các thế hệ, khiến mối quan hệ giữa các chủ thể văn hóa (nghệ nhân, nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu văn hóa...) và giới trẻ trở nên gần gũi, thân thiết hơn, giúp việc giáo dục văn hóa truyền thống trở nên dễ dàng, hiểu quả hơn. Một số cách thức cụ thể nhằm phát huy vai trò của chi thể văn hóa như: Mời nghệ nhân dân gian, người am hiểu văn hóa Kinh Bắc tham gia giảng dạy, giao lưu;  Khuyến khích học sinh, sinh viên có năng khiếu tham gia truyền dạy trong các câu lạc bộ; Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - cộng đồng trong giáo dục nhận thức văn hóa.

3. Kết luận và khuyến nghị

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa dân tộc là kim chỉ nam cho việc bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời đại mới. Việc vận dụng những tư tưởng đó vào giáo dục học sinh, sinh viên không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa Kinh Bắc mà còn bồi dưỡng thế hệ trẻ có ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước. Trong dòng chảy hội nhập, giữ gìn văn hóa không phải là bảo thủ mà chính là cách để khẳng định bản lĩnh và giá trị của dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu và vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa dân tộc, bên cạnh những giá trị to lớn, cũng cần có cái nhìn phản biện mang tính khoa học để tránh tuyệt đối hóa. Việc quá nhấn mạnh vai trò của truyền thống có thể dẫn đến xu hướng bảo thủ, làm chậm quá trình tiếp thu những giá trị văn hóa mới trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nếu vận dụng không linh hoạt, tư tưởng “giữ gìn bản sắc dân tộc” dễ bị hiểu lệch thành việc khép kín, thiếu cởi mở với các yếu tố văn hóa ngoại lai, từ đó hạn chế sự sáng tạo và đổi mới trong giáo dục học sinh, sinh viên. Hơn nữa, trong thực tiễn hiện nay, nhu cầu hội nhập đòi hỏi văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn phải được “hiện đại hóa”, thích ứng với đời sống đương đại. Vì vậy, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa cần được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, kế thừa và phát triển, tránh rơi vào cực đoan hoặc giáo điều, từ đó mới có thể phát huy hiệu quả trong giáo dục thế hệ trẻ về bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống Kinh Bắc một cách bền vững.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, Hà Nội.

2. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.

3. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (1971), Về công tác văn hóa văn nghệ, NXB, Sự thật, Hà Nội

5. Đại học Quốc gia Hà Nội (1998): Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1998, tr. 161 - 162
6. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.

7. Ngô Đức Thịnh (2010), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội.

8.  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021 t. I, tr. 143 – 147.

9. Nhiều tác giả (2020), Tài liệu Giáo dục địa phương lớp 6, tỉnh Bắc Ninh, NXB Giáo dục Việt Nam.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết