A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON THÍ ĐIỂM VÀ YÊU CẦU VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN, CÁN BỘ QUẢN LÝ

 

                                                    Giảng viên: Nguyễn Thị Dư - Bộ môn Mầm non

 

1. Đặt vấn đề

Chương trình GDMN mới, dự kiến thí điểm từ năm học 2026 – 2027, được xây dựng trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của chương trình hiện hành, đồng thời bổ sung nhiều tiếp cận hiện đại: tiếp cận phẩm chất – năng lực, tiếp cận dựa trên quyền trẻ em, giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, tăng cường tính mở và trao quyền chủ động cho nhà trường. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu mới, sâu sắc hơn đối với năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) và cán bộ quản lý (CBQL) cơ sở GDMN.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Những điểm mới cơ bản của Chương trình GDMN và yêu cầu đối với đội ngũ

Chương trình GDMN mới thể hiện sáu điểm mới cơ bản, mỗi điểm mới đều kéo theo những yêu cầu cụ thể đối với năng lực của GVMN và CBQL cơ sở GDMN.

Thứ nhất, tiếp cận phẩm chất, năng lực, định hướng tình cảm – xã hội. Mục tiêu chương trình xác định rõ việc phát triển phẩm chất và năng lực, nhấn mạnh giá trị cốt lõi và năng lực chung; các lĩnh vực giáo dục, kết quả mong đợi, phương pháp và cách đánh giá đều được thiết kế theo hướng phát triển năng lực, coi trọng quá trình phát triển liên tục qua trải nghiệm và tương tác. Điều này đòi hỏi GVMN phải biết thiết kế hoạt động phát triển năng lực thay vì chỉ dừng lại ở truyền đạt nội dung, biết quan sát và đánh giá biểu hiện năng lực của trẻ trong quá trình; CBQL cần chỉ đạo chuyên môn theo định hướng phát triển năng lực và xây dựng tiêu chí đánh giá, hỗ trợ GV phát triển năng lực nghề nghiệp. Về bản chất, đây là sự chuyển đổi từ “quản lý nội dung” sang “lãnh đạo phát triển năng lực”.

Thứ hai, tiếp cận dựa trên quyền và giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Chương trình nêu trực tiếp quyền của trẻ mầm non, thể hiện rõ tinh thần hòa nhập, công bằng, bình đẳng, tôn trọng trẻ, đồng thời xác định trẻ là chủ thể hoạt động và giao tiếp, chủ động học qua chơi và trải nghiệm, còn nhà giáo dục đóng vai trò người hỗ trợ. GVMN cần cá nhân hóa hoạt động theo nhu cầu, khả năng từng trẻ, chuyển vai trò từ “truyền thụ” sang “tổ chức, kiến tạo, hỗ trợ”; CBQL cần xây dựng môi trường giáo dục công bằng, an toàn, bao trùm và giám sát việc thực hiện quyền trẻ em trong cơ sở giáo dục.

Thứ ba, liên thông với Chương trình GDPT 2018, bổ sung nội dung và phương pháp giáo dục mới. Chương trình được thiết kế theo định hướng năng lực, liên thông chặt chẽ với Chương trình GDPT 2018, bổ sung các nội dung hội nhập như bản sắc văn hóa, kỹ năng sống, công nghệ số, ngoại ngữ, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và dịch bệnh. GVMN cần nhận diện và phát triển các năng lực nền tảng (tự chủ, giao tiếp, hợp tác…), tích hợp nội dung hiện đại vào hoạt động phù hợp; CBQL cần định hướng phát triển nhà trường theo xu thế hội nhập. Bản chất của sự thay đổi này là khẳng định GDMN là nền tảng của năng lực học tập suốt đời, chứ không chỉ đơn thuần “chuẩn bị vào lớp Một”.

Thứ tư, quy định chế độ sinh hoạt mới, trao quyền chủ động, linh hoạt cho nhà trường. Thời gian làm việc của GV được quy định phù hợp với Luật Lao động (tối đa 8 giờ/ngày trên lớp), trách nhiệm chăm sóc – nuôi dưỡng được phân định rõ giữa nhà trường và gia đình, qua đó giảm áp lực cho GVMN. GV cần tổ chức hoạt động hiệu quả trong thời gian phù hợp, phối hợp tốt với phụ huynh; CBQL cần quản lý thời gian, phân công lao động hợp lý và xây dựng cơ chế phối hợp nhà trường – gia đình. Bản chất là giảm tải hành chính, tăng chất lượng tương tác giáo dục.

Thứ năm, tăng cường tính “mở” của chương trình. Chương trình chỉ quy định yêu cầu cần đạt ở cuối độ tuổi nhà trẻ (24–36 tháng) và mẫu giáo (5–6 tuổi), không quy định chi tiết nội dung từng độ tuổi, qua đó trao quyền và tăng tính tự chủ cho nhà trường. GV cần có năng lực phát triển chương trình lớp học – phân tích mục tiêu, thiết kế nội dung, điều chỉnh linh hoạt và ra quyết định sư phạm dựa trên bối cảnh, nhu cầu trẻ; CBQL đóng vai trò lãnh đạo phát triển chương trình nhà trường, hỗ trợ và giám sát nhưng không áp đặt. Đây là bước chuyển từ “thực hiện chương trình” sang “kiến tạo chương trình”.

Thứ sáu, nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng. Chương trình quy định rõ trách nhiệm của gia đình, cộng đồng, khuyến khích phụ huynh tham gia hoạt động giáo dục, huy động nguồn lực xã hội. GV cần tăng cường giao tiếp, truyền thông và phối hợp giáo dục với cha mẹ trẻ; CBQL cần xây dựng quan hệ đối tác với gia đình, cộng đồng và huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục. Bản chất của thay đổi này là chuyển từ giáo dục “trong nhà trường” sang xây dựng một “hệ sinh thái giáo dục”.

2.2. So sánh cấu trúc Chương trình GDMN hiện hành và Chương trình GDMN mới

Để làm rõ hơn mức độ và tính chất của sự đổi mới, có thể so sánh Chương trình GDMN hiện hành và Chương trình GDMN mới (dự thảo) theo 12 thành tố cấu trúc cơ bản, được tổng hợp tại Bảng 1.

Bảng 1. So sánh cấu trúc Chương trình GDMN hiện hành và Chương trình GDMN mới

Thành tố

CT GDMN hiện hành

CT GDMN mới (dự thảo)

Bản chất thay đổi

1. Quan điểm xây dựng CT

CT khung quốc gia, có tính mở, phát triển toàn diện. Lấy trẻ làm trung tâm, học qua chơi, tích hợp.

Xác định rõ tiếp cận năng lực, định hướng tình cảm – xã hội. Nhấn mạnh tiếp cận dựa trên quyền, công bằng, hòa nhập.

Tuyên bố rõ ràng, có hệ thống các tiếp cận hiện đại (năng lực, quyền, hòa nhập).

2. Mục tiêu CT

Phát triển toàn diện: thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; chuẩn bị vào lớp 1.

Phát triển toàn diện, hướng đến phẩm chất và năng lực.

Từ “phát triển toàn diện” → “phát triển theo cấu trúc phẩm chất – năng lực”.

3. Cấu trúc CT

Cấu trúc 4 phần. “Kết quả mong đợi” đặt sau nội dung, chia chi tiết từng độ tuổi.

Cấu trúc 5 phần (thêm điều kiện thực hiện). “Yêu cầu cần đạt” đặt trước nội dung, theo giai đoạn cuối độ tuổi.

Từ “triển khai theo độ tuổi” → “thiết kế theo đầu ra phát triển (giai đoạn)”.

4. Nội dung giáo dục

Cụ thể hóa, chia theo độ tuổi; tổ chức theo lĩnh vực phát triển.

Định hướng, gợi mở, không quy định chi tiết; cho phép địa phương, nhà trường lựa chọn.

Từ “nội dung quy định” → “nội dung định hướng (mở)”.

5. Kết quả mong đợi / Yêu cầu cần đạt

Có mục tiêu và kết quả mong đợi theo từng độ tuổi, từng lĩnh vực; chưa là trung tâm cấu trúc.

YCCĐ đặt trước nội dung; quy định ở cuối độ tuổi nhà trẻ (24–36 tháng) và mẫu giáo (5–6 tuổi); là cơ sở chọn nội dung, tổ chức hoạt động.

Chuyển sang tiếp cận “đầu ra”, lấy YCCĐ làm trung tâm.

6. Phương pháp giáo dục

Học qua chơi, hoạt động tích hợp, phù hợp lứa tuổi.

Trẻ là chủ thể, học qua trải nghiệm; GV hỗ trợ, thiết kế, tổ chức quá trình học và môi trường học tập có ý nghĩa.

Từ “tổ chức hoạt động” → “thiết kế trải nghiệm học tập”.

7. Đánh giá trẻ

Đánh giá thường xuyên, theo giai đoạn, theo dõi sự phát triển.

Đánh giá quá trình, dựa trên bằng chứng, phục vụ phát triển; gắn năng lực và tiến bộ cá nhân.

Đánh giá vì sự phát triển của trẻ.

8. Tính mở của CT

Có tính mở nhưng vẫn định hướng nội dung khá cụ thể.

Tăng cường mạnh tính mở, trao quyền cho giáo viên, nhà trường.

Từ “mở có kiểm soát” → “mở gắn với tự chủ và trách nhiệm”.

9. Vai trò của giáo viên

Tổ chức, thực hiện CT; điều chỉnh trong phạm vi nhất định.

Chủ thể phát triển CT lớp học; thiết kế, điều chỉnh, cá nhân hóa hoạt động.

Từ “thực hiện chương trình đồng loạt” → “kiến tạo chương trình”.

10. Vai trò của CBQL

Quản lý việc thực hiện CT theo quy định.

Lãnh đạo phát triển CT, hỗ trợ và trao quyền cho giáo viên.

Từ “quản lý hành chính” → “lãnh đạo chuyên môn”.

11. Phối hợp gia đình – cộng đồng

Có yêu cầu phối hợp.

Xác định rõ trách nhiệm đa bên; gia đình là đối tác quan trọng.

Từ “phối hợp” → “đồng kiến tạo giáo dục”.

12. Liên thông chương trình

Kết nối giữa các độ tuổi; chuẩn bị vào lớp 1.

Liên thông rõ ràng với CT GDPT 2018 theo tiếp cận năng lực.

Từ “chuẩn bị vào lớp 1” → “xây nền năng lực học tập suốt đời”.

Có thể thấy, sự thay đổi tập trung nhiều nhất ở nhóm thành tố liên quan đến “đầu ra” của chương trình (thành tố 2, 5, 7) và vai trò của các chủ thể tham gia thực hiện chương trình (thành tố 8, 9, 10, 11). Trong đó, thành tố “Yêu cầu cần đạt” (YCCĐ) giữ vị trí đặc biệt quan trọng: YCCĐ được đặt trước nội dung, trở thành điểm xuất phát và trung tâm của chương trình – GV không còn bắt đầu từ câu hỏi “dạy gì” mà từ câu hỏi “trẻ cần đạt gì”, từ đó thiết kế mục tiêu, lựa chọn nội dung và tổ chức hoạt động phù hợp. Chương trình chỉ quy định YCCĐ ở cuối mỗi giai đoạn (24–36 tháng đối với nhà trẻ; 5–6 tuổi đối với mẫu giáo), qua đó trao quyền cho GV xây dựng lộ trình, nội dung, trải nghiệm linh hoạt theo bối cảnh lớp học, đồng thời gắn trách nhiệm của GV với mức độ đạt được của trẻ dựa trên bằng chứng. Cách tiếp cận “đầu ra” này cũng cho phép cá nhân hóa quá trình học tập: GV lấy YCCĐ làm chuẩn để theo dõi tiến bộ của từng trẻ, điều chỉnh hoạt động theo “vùng phát triển gần”, bảo đảm mọi trẻ đều đạt được mục tiêu theo nhịp độ riêng, thay vì học đồng loạt theo một nội dung cố định.

Nhìn tổng thể 12 thành tố, có thể khái quát: Chương trình GDMN mới không phủ định chương trình hiện hành, mà kế thừa các nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm, học qua chơi, tích hợp, đồng thời hệ thống hóa, làm rõ và đẩy mạnh hơn các tiếp cận hiện đại về năng lực, quyền trẻ em và tính mở của chương trình – những yếu tố trước đây mới chỉ được thể hiện ở mức độ định hướng chung.

2.3. Năng lực giáo viên mầm non thực hiện Chương trình GDMN mới

Việc thực hiện thành công Chương trình GDMN mới phụ thuộc trước hết vào năng lực của đội ngũ GVMN. Trên cơ sở phân tích yêu cầu của chương trình, có thể xác định tám năng lực cốt lõi mà GVMN cần có, đồng thời đối chiếu với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Thông tư 28/2026/TT-BGDĐT) và Khung năng lực giáo viên mầm non khu vực Đông Nam Á do SEAMEO xây dựng, nhằm cho thấy tính thống nhất giữa yêu cầu của chương trình mới với các khung chuẩn hiện có (Bảng 2).

Bảng 2. Đối chiếu năng lực GVMN thực hiện CT GDMN mới với Chuẩn nghề nghiệp GVMN (TT28/2026) và Khung năng lực GVMN Đông Nam Á (SEAMEO)

Năng lực GV (CT GDMN mới)

Chuẩn nghề nghiệp GVMN – TT28/2026

Khung năng lực GVMN Đông Nam Á (SEAMEO)

1. Thiết kế và tổ chức hoạt động dựa trên chơi và trải nghiệm

Phát triển chuyên môn; Tổ chức hoạt động giáo dục

Thực hành sư phạm; Tổ chức học thông qua chơi

2. Hỗ trợ cá nhân hóa và giáo dục hòa nhập

Xây dựng môi trường giáo dục; Phát triển mối quan hệ với trẻ

Đáp ứng sự đa dạng; Giáo dục hòa nhập

3. Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, giàu trải nghiệm

Xây dựng môi trường giáo dục

Tạo môi trường học tập tích cực

4. Quan sát và đánh giá vì sự tiến bộ của trẻ

Đánh giá sự phát triển của trẻ; Phát triển chuyên môn

Đánh giá vì học tập; Hiểu biết về trẻ

5. Phát triển chương trình nhà trường / lớp học

Phát triển chuyên môn; Thực hiện chương trình

Thiết kế chương trình; Lập kế hoạch giáo dục

6. Phối hợp với gia đình và cộng đồng

Phát triển mối quan hệ với gia đình và cộng đồng

Hợp tác với gia đình, cộng đồng

7. Phát triển chuyên môn liên tục và phản tư nghề nghiệp

Phát triển chuyên môn; Tự đánh giá nghề nghiệp

Học tập suốt đời; Thực hành phản tư

8. Ứng dụng công nghệ và thích ứng bối cảnh mới

Ứng dụng CNTT; Phát triển chuyên môn

Sử dụng công nghệ trong giáo dục

Kết quả đối chiếu cho thấy tám năng lực cốt lõi mà Chương trình GDMN mới đòi hỏi ở GVMN đều có cơ sở tương ứng trong Chuẩn nghề nghiệp GVMN hiện hành cũng như trong Khung năng lực GVMN khu vực Đông Nam Á. Điều này khẳng định định hướng đổi mới chương trình của Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển năng lực nghề nghiệp GVMN trong khu vực, đồng thời cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng GVMN hoàn toàn có thể được thiết kế dựa trên sự tích hợp giữa yêu cầu của chương trình mới, chuẩn nghề nghiệp trong nước và khung năng lực khu vực, thay vì xây dựng một hệ thống năng lực hoàn toàn mới, tách rời.

2.4. Định hướng chuyển đổi cốt lõi

Từ những phân tích trên, có thể khái quát sáu định hướng chuyển đổi cốt lõi mà Chương trình GDMN mới đặt ra đối với GVMN và CBQL cơ sở GDMN:

  • Từ quản lý nội dung sang lãnh đạo phát triển năng lực;
  • Từ thực hiện chương trình sang kiến tạo chương trình;
  • Từ nội dung quy định sang nội dung định hướng (mở);
  • Từ triển khai theo độ tuổi sang thiết kế theo đầu ra phát triển;
  • Từ giáo dục “trong nhà trường” sang “hệ sinh thái giáo dục”;
  • Từ chuẩn bị vào lớp Một sang xây dựng nền tảng năng lực học tập suốt đời.

Sáu định hướng này không tồn tại độc lập mà có quan hệ chặt chẽ, cùng phản ánh một sự chuyển dịch chung: từ tư duy “thực hiện đúng quy định” sang tư duy “chủ động kiến tạo vì sự phát triển của trẻ”, đòi hỏi GVMN và CBQL phải thay đổi cả nhận thức, kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng thực hành nghề nghiệp.

  1. Kết luận

Chương trình GDMN mới, thí điểm từ năm học 2026 – 2027, thể hiện một bước chuyển đổi có tính hệ thống trong tư duy xây dựng chương trình giáo dục mầm non ở Việt Nam, theo hướng tiếp cận phẩm chất – năng lực, tiếp cận dựa trên quyền trẻ em, tăng cường tính mở và đề cao vai trò chủ động, sáng tạo của giáo viên cũng như trách nhiệm phối hợp của gia đình, cộng đồng. Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn đối với năng lực nghề nghiệp của đội ngũ GVMN và CBQL, nhưng đồng thời cũng phù hợp với các khung chuẩn nghề nghiệp trong nước và khu vực đã có.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025), Chương trình Giáo dục mầm non (dự thảo), thí điểm từ năm học 2026 – 2027.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Chương trình Giáo dục Mầm non – ban hành kèm theo Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT ngày 13/4/2021, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026), Thông tư số 28/2026/TT-BGDĐT quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT.

5. SEAMEO (Southeast Asian Ministers of Education Organization), Khung năng lực giáo viên mầm non khu vực Đông Nam Á.

6. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Trẻ em, Luật Lao động (các quy định liên quan đến quyền trẻ em và thời gian làm việc của giáo viên).

7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT).


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết