A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY HAI NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TS: Nguyễn Hữu Niên - Khoa LLCT - TLGD

 

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn. Giảng dạy triết học nói chung, phép biện chứng nói riêng để sinh viên thấy dễ tiếp thu, gần gũi, có ý nghĩa thiết thực là việc không đơn giản, đòi hỏi giảng viên phải có nhiều tìm tòi, đổi mới sáng tạo. Trong phép biện chứng duy vật thì  hai nguyên lý cơ bản là nội dung cơ bản.  Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ cách thực hiện một số nội dung  nhằm nâng cao hiệu quả khi  giảng  hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.

1. Đối với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

- Để kích thích tư duy của sinh viên, đặt vấn đề vào giảng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, giảng viên đặt câu hỏi: Thế giới được tạo thành từ những sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau. Vậy giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng tồn tại qua lại thì nhân tố gì quy định sự liên hệ đó?

          Sinh viên sẽ phải vận dụng vốn hiểu biết của mình để đưa ra câu trả lời. Tuy nhiên, đây là câu hỏi khó. Để  giúp sinh viên dễ dàng hơn trong việc đưa ra nhận định của mình, giảng viên có thể đưa ra hai quan điểm (quan điểm siêu hình, quan điểm duy vật biện chứng) phản ánh cách nhìn khác nhau về mối liên hệ của sự vật trong thế giới và đề nghị các em lựa chọn quan điểm đúng.

                Quan điểm siêu hình cho rằng, các sự vật, hiện tượng, các quá trình trong thế giới khách quan tồn tại biệt lập, tách rời nhau...

                 Quan điểm biện chứng cho rằng, các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa tác động qua lại, chuyển hoá lẫn  nhau.

                Khi các em chọn quan điểm biện chứng là đúng thì bằng việc phân tích ví dụ để chứng minh là đúng, còn khi các em chọn quan điểm siêu hình là đúng thì bằng việc phân tích hững ví dụ để chứng minh rằng quan điểm siêu hình là sai và khẳng định quan điểm biện chứng là đúng. Có thể yêu cầu các em tìm hiểu về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên; mối quan hệ giữa  các cơ quan chân, tay, tai, mắt, miệng trong cơ thể con người (qua câu chuyện ngụ ngôn chân, tay, tai, mắt, miệng).

        - Ý nghĩa phương pháp luận:  Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động phải có quan điểm toàn diện. Quan điểm toàn diện nghĩa là xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác. Tuy nhiên, cần thuyết trình làm sao cho sinh viên nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải có quan điểm toàn diện khi xem xét các sự vật, hiện tượng,  giảng viên có thể dẫn câu chuyện ngụ ngôn «Thầy bói xem voi ». Câu chuyện này các em đã được học trong văn học ở bậc học phổ thông, khá dễ nhớ và qua câu chuyện cho chúng ta bài học, nếu nhìn phiến diện thì sự vật phản ánh bị méo mó, biến dạng, không còn trung thực, khách quan, không đúng là nó nữa. Từ đó các em thấy rằng, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn  phải tránh cách nhìn phiến diện và phải tuân theo nguyên tắc của quan điểm toàn diện.

- Để củng cố bài học, khắc sâu kiến thức đồng thời cho các em tập làm quen với việc vận dụng quan điểm toàn diện vào thực tiễn, giảng viên có thể cho các em thảo luận chủ đề sau :

Có ý kiến cho rằng, chất lượng giáo dục phụ thuộc hoàn toàn vào nhà trường. Anh(chị) có quan điểm như thế nào về ý kiến trên?

Đây là vấn đề thực tiễn mà các em có thể đã biết. Song để có phản biện với ý kiến đó thì cần phải có lý luận. Sau khi học xong nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, các em đã có đủ lý luận để phân tích, luận giải vấn đề một cách chặt chẽ, chắc chắn. Để có câu trả lời đúng đắn đánh giá ý kiến trên thì sinh viên cần phải vận dụng quan điểm toàn diện để xem xét các nhân tố tác động tới chất lượng giáo dục.

Như vậy, với cách đưa ra nội dung thảo luận là vấn đề thực tiễn, gần gũi, các em cảm thấy kiến thức triết học rất bổ ích và gần với cuộc sống. Điều này củng cố tình yêu đối với môn học.

2. Đối với nguyên lý về sự phát triển

          - Khi giảng về khái niệm phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng, giảng viên cần làm cho sinh hiểu được những biểu hiện khuynh hướng sự vận động đi lên của sự vật (từ thấp đến cao, từ đơn giản đén phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn). Để sinh viên nhận thức sâu sắc và tin tưởng vào khuynh hướng vận động đi lên của sự vật trong thế giới, giảng viên có thể đặt những câu hỏi trong phạm vi kiến thức phổ thông mà các em đã biết và yêu cầu các em chỉ ra khuynh hướng sự vận động phát triển đi lên. Ví dụ, có thể yêu cầu sinh viên cho biết sự tiến hóa của thực vật? Sự phát triển của công cụ lao động?

Những câu hỏi này, các em vận dụng kiến thức phổ thông đã học là có thể trả lời được. Câu trả lời chính là sự chứng minh cho khuynh hướng phát triển của thế giới. Ngoài ra, giảng viên có thể thuyết trình thêm sự phát triển của sự vật ở một số lĩnh vực khác nhau của thế giới.

          - Ở nguyên lý về sự phát triển, ý nghĩa phương pháp luận rút ra là cần có quan điểm phát triển trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Đối với nội dung này, cần làm cho sinh viên thấy rằng khi xem xét, nhìn nhận sự vật phải có quan điểm phát triển đồng thời tránh quan điểm bảo thủ, định kiến. Giảng viên có thể thuyết trình  qua câu chuyện về cách động viên của người mẹ nhà phát minh vĩ đại người Mỹ Edison khi ông bị nhà trường từ chối cho tiếp tục đến trường hồi học tiểu học vì cho rằng ông là đứa trẻ đần độn không thể dạy được. Giảng viên kể tóm tắt cho sinh viên nghe câu chuyện:

Edison, sinh ngày 11/2/1847, tại Milan, Ohio (Mỹ), vốn bị coi là đứa trẻ "đần độn, rối trí" (tâm thần). Vào khoảng năm 7 tuổi, một hôm cậu từ trường về nhà và nói với mẹ: "Mẹ, thầy giáo bảo con đưa cho mẹ cái này!".

Cẩn thận mở ra xem, bên trong kèm lá thư của giáo viên chủ nhiệm gửi phụ huynh em Edison, nước mắt bà Nancy Elliott giàn giụa. Cậu bé đứng ngẩn người kinh ngạc, cậu hỏi mẹ rằng thầy giáo đã viết gì trong đó?.

Ngập ngừng một lát, bà Nancy đọc to lá thư cho con trai mình: "Con trai của ông bà là một thiên tài! Nhưng ngôi trường này quá nhỏ, các giáo viên của chúng tôi không có đủ năng lực để dạy dỗ cậu bé. Bởi vậy, xin ông bà hãy tự kèm cặp con trai mình".

Kể từ đó, Edison được mẹ, cũng từng là giáo viên ở Canada kèm cặp, dạy dỗ mà không đến trường thêm lần nào nữa.

Nhiều năm sau đó, mẹ của Edison đã qua đời, còn con trai bà thì trở thành một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất thế kỷ 20, người được mệnh danh là "Thầy phù thủy ở Menlo Park" nhờ những sáng chế thiên tài cống hiến cho nhân loại.

Một ngày, khi xem lại những kỷ vật của gia đình, Edison vô tình nhìn thấy một tờ giấy gập nhỏ được cất trong ngăn kéo bàn. Tò mò mở ra đọc, trước mắt cậu chính là lá thư của thầy giáo năm nào. Trong thư, có đoạn: "Con trai ông bà là đứa trẻ rối trí. Chúng tôi không thể chấp nhận cho trò ấy đến trường được nữa".

Edison đã khóc hàng giờ sau khi đọc lá thư năm nào. Thiên tài viết trong nhật ký rằng: "Thomas Alva Edison là một đứa trẻ rối trí, vậy mà, nhờ có một người mẹ tuyệt vời, cậu đã trở thành thiên tài của thế kỷ".

Sau khi kể cho sinh viên nghe câu chuyện này, giảng viên thuyết trình về quan điểm phát triển của người mẹ Edison khi nhìn nhận về con mình. Đồng thời liên hệ quan điểm phát triển đối với người giáo viên khi nhìn nhận những học sinh bị mắc lỗi, vi phạm khuyết điểm, học lực còn yếu... Đây cũng là cách liên hệ bài giảng với thực tiễn nghề nghiệp của các em sau này, làm cho bài giảng có tính thực tiễn, thiết thực.

 

 

 

 

ừa

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết