1. Định hướng về phát triển chương trình giáo dục hiện nay

Bước sang thế kỉ 21 nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang giai đoạn kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế. Nguyên nhân quan trọng dẫn đến các đặc điểm trên chính là các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đặc biệt là thành tựu của công nghệ thông tin. Trong tình hình đó ngành giáo dục với chức năng chuẩn bị lực lượng lao động cho xã hội cũng phải chuyển biến đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây đang tập trung đổi mới, hướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại, bắt kịp xu hướng của các nước trong khu vực và trên thế giới. Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng cập nhật, hiện đại dựa trên tinh thần kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được là điều kiện tiên quyết góp phần đổi mới nội dung, phương pháp dạy học hiện nay.

Phát triển chương trình giáo dục là quá trình điều chỉnh, bổ sung, cập nhật, làm mới toàn bộ hoặc một số thành tố của chương trình giáo dục, đảm bảo khả năng phát triển và ổn định tương đối của chương trình giáo dục đã có nhằm làm cho việc triển khai chương trình theo mục tiêu giáo dục đặt ta đạt hiệu quả tốt nhất, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu phát triển của xã hội và phát triển của cá nhân học sinh. Phát triển chương trình bao gồm xây dựng chương trình, đánh giám chỉnh sửa và hoàn thiên chương trình. Công văn số 791, ngày 25/6/2013HD/BGDĐT về việc Hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường đã chỉ rõ “Hoạt động rà soát nội dung chương trình, sách giáo khoa hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu đồng thời bổ dung, cập nhật những thông tin mới phù hợp,…Cấu trúc, sắp xếp lại nội dung của từng môn học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực học sinh thành những bài học mới, có thể chuyển một số nội dung dạy học thành nội dung các hoạt động giáo dục và bổ sung các hoạt động giáo dục khác vào chương trình hiện hành” [1].

Đối với môn toán, theo dự thảo về chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của bộ giáo dục và đào tạo năm 2015 thì môn Toán ở tiểu học và trung học cơ sở giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy tắc toán học cần thiết cho tất cả mọi người, làm nền tảng cho việc học tập tiếp theo ở các trình độ học tập hoặc có thể sử dụng trong đời sống hằng ngày. Cấu trúc chương trình dựa trên sự phối hợp cả cấu trúc tuyến tính với cấu trúc “xoáy trôn ốc ” (Đồng tâm, mở rộng và nâng cao dần), xoay quanh và tích hợp ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đo lường, Thống kê và Xác suất.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã yêu cầu “Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông”, “Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”.

Như vậy vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng chương trình môn toán như thế nào để học sinh sau khi tốt nghiệp bậc trung học cơ sở cần có kiến thức, kĩ năng vận dụng vận dụng thành thạo công cụ toán học để giải quyết các bài toán thực tiễn đời sống đặt ra cho họ.

Trong nội bộ môn toán thống kê là một trong những phần hiếm hoi của chương trình phổ thông mang lại nhiều cơ hội cho học sinh vận dụng toán học vào thực tiễn. Ứng dụng của toán thống kê có phạm vi rộng và có mặt trong hầu hết các lĩnh vực khoa học, đời sống, lao động sản xuất. Nội dung này giúp người học hiểu một cách cụ thể việc vận dụng toán học vào thực tiễn như thế nào ngoài việc sử dụng toán học như một công cụ tính toán thông thường. Vì thế dạy học thống kê ở bậc phổ thông cần phải điều chỉnh bổ sung về thời lượng và chất lượng để học sinh có thể giải quyết tốt các vấn đề thường gặp trong cuộc sống.

2. Khái quát mạch toán thống kê ở bậc giáo dục Trung học cơ sở trong chương trình sách giáo khoa hiện hành

Nội dung Bảng, Biểu thống kê được chuẩn bị từ Tiểu học lên bậc Trung học cơ sở mạch toán này được thể hiện tường minh ở chương III, toán 7, tập 2, với thời lượng 10 tiết bao gồm: thu nhập số liệu thống kê, tần số. Bảng “tần số” các giá trị của dấu hiệu. Biểu đồ. Số trung bình cộng, mốt. Trước khi học nội dung này, học sinh đã được học biểu đồ phần trăm ở lớp 6 (chương III). Lên bậc trung học phổ thông các kiến thức về xác suất và thống kê toán được củng cố lại và bổ sung về khái niệm số trung vị, phương sai.

          Nhìn tổng thể mục đích yêu cầu khi dạy học các hoạt động thống kê ở bậc Trung học cơ sở có thể chia làm 4 dạng hoạt động cơ bản:

- Lập được bảng số liệu thống kê ban đầu.

- Nghiên cứu một dấu hiệu theo phương pháp thống kê, lập bảng tần số.

- Biểu diễn các giá trị dấu hiệu bằng biểu đồ.

- Tiếp cận kiến thức về số trung bình cộng, hiểu được ý nghĩa đặc trưng của số trung bình cộng không chỉ mang tính chất san đều mà còn có dấu hiệu và mang tính đại diện.

3. Một số nhận xét về nội dung dạy học thống kê ở bậc Trung học cơ sở

Nội dung thống kê trong chương trình sách giáo khoa toán lớp 7 và Đại số lớp 10 hiện hành thì các bài toán đưa ra cho học sinh đều là bài toán có nội dung thực tiễn chứ chưa phải là bài toán thực tiễn, thường gắn với một cuộc điều ra nào đó có thể xảy ra trong thực tiễn, yêu cầu đặt ra cho học sinh là thực hiện tính số trung bình, tìm mốt, lập bảng tần số hay ghép lớp, vẽ biểu đồ hình quát, hình cột,…Tuy nhiên sách giáo khoa chưa đề cập nhiều đến những tiện ích khi sử dụng những kết quả đó có ý nghĩa gì đối với việc ra quyết định, đem lại hiệu quả về kinh tế, xã hội như thế nào, sử dụng các loại biểu đồ nào trong trường hợp nào là hợp lý, khi gặp một vấn đề liên quan đến kiến thức về thống kê thì phải giải quyết như thế nào.

          Về phân phối chương trình, trong suốt 4 năm ở bậc trung học cơ sở học sinh chỉ được làm quen với thống kê trong thời lượng 10 tiết. Sau đó đến lớp 10 học sinh mới tiếp tục được củng cố các kiến thức đã học ở lớp 7 và phát triển thêm 2 khái niệm mới là trung vị và phương sai. Hơn nữa, dạy học khái niệm trung vị và phương sai không quá khó đối với trình độ hiểu biết của học sinh trung học cơ sở vì chỉ cần sử dụngg kĩ năng tính toán. Nội dung thống kê gắn liền với thực tiễn, giúp người học ý thức được vai trò toán học trong đời sông. Tuy nhiên, với thời lượng ít học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở chưa thể hình thành kĩ năng thống kê để vận dụng xử lý các tình huống thường gặp trong thực tiễn.

4. Đề xuất về phát triển chương trình mạch toán thống kê ở bậc giáo dục Trung học cơ sở

Thứ nhất: Điều chỉnh tăng thời lượng dạy học mạch toán thống kê ở bậc THCS nhằm tăng cường tính ứng dụng toán học vào thực tiễn cuộc sống và học tập; có thể chuyển nội dung dạy học trung vị, phương sai vào chương trình toán 9 để học sinh trung học có thể giải quyết những tình huống phức tạp hơn khi cần đến công cụ này; cần tăng độ khó của các bài tập thông qua việc đưa vào các tình huống thực tế phù hợp với khả năng hiểu biết và vận dụng toán thống kê ở từng độ tuổi; tránh tình trạng nội dung dạy học thống kê gián đoạn nhiều trong chương trình phổ thông tổng thể.

Thứ 2. Bổ sung những ví dụ, bài tập tình huống thực tiễn vào hệ thống ví dụ, bài tập trong sách giáo khoa. Chú ý khai thác các ứng dụng của Thống kê vào các bộ môn khác gần với thực tế như Vật lí, Hóa học, Sinh học,để tăng cường tính tích hợp, liên môn.

      Đối với mạch toán thống kê, hầu hết các bài toán đưa vào chương trình đều có nội dung thực tiễn. Tuy nhiên các bài toán này chưa gắn với một tình huống thực tiễn để học sinh thực hiện giải quyết tình huống, xây dựng mô hình toán học phù hợp và nhận định tình huống. Bởi vậy việc bổ sung các tình huống thực tiễn cuộc sống để học sinh thảo luận và giải quyết là rất cần thiết (các tình huống này khác với dạng bài toán thực tế ở chỗ nội dung chưa được gọt dũa các dữ kiện và phát biểu dưới dạng ngôn ngữ toán học). Từ đó giúp học sinh hình thành năng lực toán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng vận dụng tích hợp các kiến thức toán thống kê với các mạch toán khác để giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.

      Để dạy học thống kê toán một cách có hiệu quả, giáo viên cần nghiên cứu, tìm kiếm những khả năng khai thác những bài toán phù hợp trong tất cả quá trình dạy học chẳng hạn có thể sử dụng để gợi động cơ, luyện tập, củng cố, rèn luyện kỹ năng…trong dạy học chính khóa hay hoạt động ngoại khóa. Tổ chức dạy học bằng hình thức nhóm hợp tác, dạy học theo dự án, giáo viên đưa ra tình huống thực tiễn theo từng cấp độ yêu cầu ở các cấp độ khác nhau, ở mỗi cấp độ các khái niệm toán trong thống kê dần được nảy sinh. Từ đó khi giải quyết xong một tình huống học sinh ngoài việc được trạng bị công cụ toán học (khái niệm, công thức) mà người học đã vận dụng kiến thức toán học vào giải quyết vấn đề thực tiễn.

Một số ví dụ: Có thể đưa một số tình huống sau đối với học sinh lớp 7.

Tình huống 1: Mùa hè, gia đình em có kế hoạch về thăm hai quê: quê nội và quê ngoại. Quê nội cách nhà 40km; quê ngoại cách nhà 95km. Để tiết kiệm chi phí mà vẫn đảm bảo về chất lượng dịch vụ, bạn A tìm trên mạng internet bảng giá của hai hãng taxi có uy tín và quyết định chọn lựa chỉ đi một trong hai hãng taxi : Mai Linh hoặc Sao Hà Nội. Bảng giá của hai hãng taxi như sau:…..

Từ các thông tin trên, em hãy trả lời câu hỏi hoặc thực hiện các yêu cầu hoạt động dưới đây:

  1. Lập bảng thống kê so sánh bảng giá giữa hai hãng taxi.
  2. Bạn A về quê nội thì nên đi xe của hãng nào?
  3. Bạn A về quê ngoại thì nên đi xe của hãng nào?
  4. Giả sử ràng gia đình bạn A cần đo taxi tới một địa điểm du lịch cách nhà (30+x) kilômét (tức là xa nhà hơn 30 km). Theo em nên chọn hãng taxi nào để chi phí thấp nhất.

Mục tiêu của bài toán: Kiểm tra năng lực toán học thông qua các kĩ năng về thống kê : yêu cầu học sinh thu thập thông tin và lập bảng thống kê phù hợp, kiểm tra các năng lực mô hình hóa bài toán thực tiễn, kĩ năng giải bất phương trình bậc nhất một ẩn.

Tình huống 2. Để tổng kết tình hình thực hiện chính sách Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) tại tổ dân phố, một điều tra viên tiến hành điều tra số con trong một gia đình và thu được bảng số liệu sau. Khi điều tra 59 hộ dân:

3 2 1 1 1 1 0 2 4 0 3 0
1 3 0 2 2 2 1 3 2 2 3 3
2 2 4 3 2 2 4 3 2 4 1 3
0 1 3 2 3 1 4 3 0 4 2 1
2 1 2 0 4 2 3 1 1 2 0

Dựa vào bảng số liệu trên thì người điều tra rút ra điều gì về tình hình thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình ở tổ dân phố trên.

Vấn đề đặt ra: Muốn có kết luận về tình hình thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình ở tổ dân phố người điều tra viên phải biết được: Trong tổ dân phố hộ gia đình có từ 1 đến 2 con chiếm tỉ lệ bao nhiêu. Trong tổ dân phố đó số con trong một gia đình chiếm tỉ lệ lớn nhất là bao nhiêu. Dựa vào những số liệu cụ thể đó người điều tra viên có thể kết luận được việc thực hiện chính sách KHHGD có hiệu quả không?

Phương án đề xuất: Ta có bảng tần số và tần suất rời rạc như sau:

Số con 0 1 2 3 4
Tần số 8 13 19 13 6
Tần suất 13,6% 22% 32,2% 22% 10,2%

Số hộ gia đình sinh từ 1 đến 2 con chiếm 54,2% chiếm đa số trong tổ dân phố. Dựa vào bảng phân bố tần suất ra thấy số con trong các hộ gia đình là không đều nhau. Tỉ lệ sinh 3-4 chiếm khá cao 32%. Mốt=2 nên số hộ gia đình sinh 2 con vẫn cao nhất, số con trung bình là 1,93. Như vậy có thể kết luận việc thực hiện chính sách KHHGĐ ở tổ dân phố này có hiệu quả.

Tình huống 3. Khi luyện tập về Biểu đồ (Đại số lớp 7, Học kì II) có thể bổ sung bài tập sau:

Một phóng viên truyền hình chỉ vào biểu đồ dưới đây và nói: “Biểu đồ này cho thấy có sự gia tăng rất lớn về số lượng các vụ trộm cướp từ năm 2012 đến năm 2013”.

năm

Câu hỏi: Em hãy cho biết lời giải thích của phóng viên có phù hợp với biểu đồ trên không? Vì sao?

Phương án đề xuất: thể đưa ra một trong những lí do sau:

- Lời giải thích trên là không hợp lý vì chỉ có một phần nhỏ của biểu đồ được nhìn thấy, nếu nhìn biểu đồ đầy đủ từ mốc 0 - 520 thì sẽ không tăng quá nhiều.

- Chỉ tăng thêm từ 8 - 9 vụ một năm, so với 507 không phải là một con số lớn.

- Không quá nhiều, biểu đồ cho thấy tỉ lệ gia tăng các vụ trộm chỉ vào khoảng 2 %.

Tình huống 4. Có thể phát triển bài toán trên khi học sinh học ở lớp trên như sau:

Biểu đồ dưới đây cho biết về kết quả bài kiểm tra của 2 nhóm A và B. Điểm trung bình của nhóm A là 62,0 và điểm trung bình của nhóm B là 64,5. Học sinh đạt điểm trên trung bình khi đạt từ 50 điểm trở lên.

Câu hỏi: Nhìn vào biểu đồ, giáo viên bộ môn nói rằng nhóm B làm tốt hơn nhóm A. Những học sinh của nhóm A không đồng tình với điều đó. Họ cố gắng thuyết phục giáo viên của họ rằng nhóm B không nhất thiết thực hiện tốt hơn. Dựa vào biểu đồ và bằng lập luận toán học, nếu bạn là các học sinh nhóm A, bạn sẽ làm thế nào để thuyết phục giáo viên ?

Phương án đề xuất: Có thể sử dụng các lập luận:

- Số lượng HS nhóm A đạt từ điểm trung bình trở lên cao hơn nhóm B.

- Có nhiều HS nhóm A đạt điểm từ 80 trở lên hơn HS nhóm B.

Tóm lại, mạch toán xác suất và thống kê có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng toán học vào cuộc sống , bởi vậy việc phát triển nội dung thống kê ở bậc trung học cơ sở nhằm đảm bảo tính liên tục và toàn diện. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng yêu cầu thời đại.

Tài liệu tham khảo:

1. Công văn số 791/HD-BGDĐT, ngày 25/6/2013 về việc Thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông.

2. Bộ giáo dục và đào tạo, Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, tháng 8, 2015.

3. Phạm Gia Đức- Bùi Huy Ngọc- Phạm Đức Quang, Phương pháp dạy học các nội dung môn toán, NXB Đại Học Sư Phạm, 2007.

4. Phan Đức Chính (chủ biên), Toán 7- tập 2, NXB Giáo dục, 2003.

5. Lê Thị Hoài Châu, Dạy học thống kê ở trường phổ thông và vấn đề nâng cao năng lực hiểu biết toán cho học sinh, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP HCM số 25, năm 2011.

6. Nguyễn Tiến Trung, Dạy học và kiểm tra- đánh giá (môn toán THCS) theo hướng tiếp cận năng lực, 2015.

 

Thống kê truy cập

6314906
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tháng này
3089
3026
33379
108140

Forecast Today
2808


Your IP:54.236.246.85

Go to top
wso shell wso shell Indoxploit Shell wso shell hacklink hacklink satışı hacklink deface mirror hacklink wso shell
wso shell wso shell Indoxploit Shell wso shell hacklink hacklink satışı hacklink satış deface mirror hacklink wso shell